Bài viết số 6 lớp 8 đề 1: Dựa vào các văn bản “Chiếu dời đô” và “Hịch tướng sĩ”, suy nghĩ về vai trò của người lãnh đạo

Lịch sử Việt Nam từ thuở khai sinh đến những năm hiện đại, đổi mới luôn gắn liền với những cuộc xâm lăng và hành trình bảo vệ đất nước. Ở đó có những tình yêu nước nồng nàn, những con người không tên không tuổi góp xương máu cho mỗi mảnh đất, nhành hoa. Ở đó còn là những vị lãnh đạo tài ba, như  những ngôi sao sáng để mở đường, dẫn lỗi cho dân tộc thoát khỏi khổ đau, lầm than. Sau 1000 năm Bắc thuộc, trên hành trình giữ gìn độc lập, tự chủ, chúng ta biết đến những cái tên chói sáng như Lí Thường Kiệt, Lí Công Uẩn, Trần Quốc Tuấn, … Để hiểu rõ hơn về những người lãnh đạo anh minh của đất nước, “Chiếu dời đô” và “Hịch tướng sĩ” chính là những dẫn chứng tiêu biểu nhất. Khi làm bài cảm nhận hai tác phẩm, các bạn cần chú ý đến kĩ năng so sánh, đối chiếu tương ứng giữa hai nhân vật để bài tránh bị rời rạc. Sau đây là những bài văn mẫu các bạn có thể tham khảo. Chúc các bạn học tập tốt!

BÀI VĂN MẪU SỐ 1 BÀI VIẾT SỐ 6 ĐỀ 1 NÊU SUY NGHĨ CỦA EM VỀ VAI TRÒ CỦA NGƯỜI LÃNH ĐẠO ANH MINH NHƯ LÍ CÔNG UẨN VÀ TRẦN QUỐC TUẤN ĐỐI VỚI VẬN MỆNH ĐẤT NƯỚC.

Đất nước ta trải qua bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước với biến bao biến cố, thăng trầm. Một ngàn năm Bắc thuộc đã sinh ra những anh hùng, những nhà lãnh đạo tài ba như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lí Nam Đế. Từ thế kỉ X, nước ta bước vào thời kì độc lập tự chủ nhưng cũng không tránh khỏi những cuộc xâm lăng. Lí Công Uẩn và Trần Quốc Tuần chính là một trong những vì sao sáng soi rọi lịch sử đất nước trong những ngày ấy.

Hai con người khác nhau, ở hai thời kì lịch sử khác nhau nhưng họ đều được ngợi ca là những nhà lãnh đạo kiệt xuất. Những người thông minh, sáng suốt, biết nhìn xa trông rộng và luôn quan tâm đến vận mệnh đất nước, đến hạnh phúc lâu bền của nhân dân. Họ chính là những tấm gương tiêu biểu được đời đời ngợi ca và lưu danh sử sách.

Người lãnh đạo anh minh, trước hết là người sáng suốt, biết nhìn xa trông rộng và biết suy nghĩ đến lợi ích lâu dài của đất nước, dân tộc.

Ở “Chiếu dời đô”, Lí Công Uẩn đã nhìn thầy kinh đô Hoa Lư chật hẹp, không còn phù hợp với đất nước đang trên đà lớn mạnh. Quyết định dời đô của Lí Công Uẩn là một quyết định táo bạo nhưng vô cùng sáng suốt. Ông nhìn thấy thành Đại La là nơi thắng địa, hội tụ của những yếu tố thiên thời, địa lợi, nhân hòa. Về vị trí địa lí, thành Đại La là trung tâm của đất trời, đất đai rộng mà phẳng, bốn bề thông thoáng. Về thế đất, nơi đây có thể rồng cuộn hổ ngồi. Về giao thương, Đại La là nơi hội tụ trọng yếu của bốn phương đất nước. Như vậy, phải là người thông minh, quyết đoán và tầm nhìn xa trông rộng thì Lí Công Uẩn mới nhìn thầy những triển vọng của đất nước khi dời đô về Đại La và đưa ra quyết định đúng đắn như thế.

Trong “Hịch tướng sĩ”, nhà tài ba lỗi lạc Trần Quốc Tuần đã nhận thấy kẻ thù đang lăm le xâm lược bờ cõi nước ta. Thế giặc mạnh, tình hình đất nước như ngàn cân treo sợi tóc. Ông thấy rõ nguy cơ nước trước thái độ bàng quan hưởng lạc của các tướng sĩ. Chính vì thế, “Hịch tướng sĩ” đã được vang lên trong một lần duyệt binh lớn ở Đông Thăng Long, phân tích đầy đủ, thấu tình, đạt lí những sai trái mà các tướng sĩ đang mắc phải. Từ đó để khích lệ lòng yêu nước, căm thù giặc và ý chí quyết tâm đánh đuổi kẻ thù. Trần Quốc Tuấn đã chỉ ra những tội ác và hành động ngang ngược của giặc: “đòi ngọc lụa để thỏa lòng tham, vơ vét bạc vàng của kho, bắt nạt tể phụ, sỉ nhục triều đình”. Vậy mà các tướng sĩ lại có thái độ cầu an hưởng lạc với những thú vui “ruộng vườn, mê hát, săn bắn, quyến luyến vợ con, chọi gà”. Để tăng sức thuyết phục, tác giả đã tưởng tượng ra cảnh giặc kéo đến với những hậu quả khôn lường: gia quyến, vợ con tan nát, phần mộ tổ tiên bị giày xéo, tiếng xấu lưu truyền. Người lãnh đạo anh minh là người luôn biết điểm mạnh, điểm yếu của mình, luôn lạc quan tin tưởng vào chính mình, khẳng định chiến thắng tất yếu sẽ thuộc về ta.

Hơn nữa, một nhà lãnh đạo anh minh phải luôn quan tâm đến vận mệnh đất nước và hạnh phúc của nhân dân. Với Lí Công Uẩn, đó là việc dời đô từ Hoa Lư ra Đại La để phát triển đất nước. Đó cũng là nơi đất rộng mà bằng, cao mà thoáng để nhân dân không phải chịu cảnh ngập lụt, vạn vật tốt tươi. Có như vậy, đời sống nhân dân mới có thể phát triển thịnh vượng. Việc dời đô không chỉ tốt cho một triều đại mà còn là tính kế lâu dài cho con cháu đời sau. Đó chính là tấm lòng của một vị vua yêu dân như con. Chính tấm lòng ấy làm nên sức thuyết phục mạnh mẽ của bài chiếu. Với Trần Quốc Tuấn, ông khích lệ các tướng sĩ đánh giặc cũng là nghĩ đến hạnh phúc của nhân dân trong hiện tại, thời quá khứ và còn cả tương lai: “Thái ấp hưởng thụ, tổ tông được thờ cúng quanh năm, danh tiếng được lưu danh sử sách”.

Như vậy, những con người khác nhau ở những hoàn cảnh khác nhau, thời đại khác nhau nhưng họ đều chung nhau ở lòng yêu nước thương dân. Đó là yếu tố quan trọng để những con người ấy, tên tuổi của họ còn sống mãi với thời gian. Đó là yếu tố làm nên Hào khí Đông A của Đại Việt có thể đánh đuổi Đại Tống và quân Mông Nguyên hùng mạnh để xây dựng một đất nước tự chủ, vững bền.

Những con người ấy chính là thế hệ đi trước, để rồi những thế kỉ sau, lại có những Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp tiếp bước con đường anh hùng của dân tộc, viết tiếp lên trang vàng sử sách thời đại. Hình ảnh những vị lãnh đạo tài ba cũng nhắc nhở thể hệ hôm nay, thế hệ không còn súng đạn, chiến tranh nhưng tình yêu nước vẫn được thể hiện trong những hành động dựng xây, phát triển đất nước.

BÀI VĂN MẪU SỐ 2 TẬP LÀM VĂN SỐ 6 ĐỀ 1 LỚP 8 SUY NGHĨ CỦA EM VỀ VAI TRÒ CỦA NGƯỜI LÃNH ĐẠO

Dân tộc Việt Nam đã trải qua hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước. Để tạo nên trang sử hào hùng, đất nước ấm no hạnh phúc như ngày hôm nay, đó là nhờ vào một phần công lao to lớn của các vị anh hùng như Lý Công Uẩn, Trần Quốc Tuấn. Họ là những người lãnh đạo anh minh suốt đời vì vận mệnh của đất nước. Thông qua hai văn bản “Chiếu dời đô” và “Hịch tướng sĩ”, chúng ta sẽ thấy rõ những người lãnh đạo anh minh như Lí Công Uẩn và Trần Quốc Tuấn với vận mệnh đất nước.

“Chiếu dời đô” của Lí Công Uẩn là sự bày tỏ ý định từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra thành Đại La (tức Hà Nội ngày nay) khi ông mới được triều đình tôn lên làm hoàng đế. Sau đó, ông đổi tên kinh đô thành Thăng Long. Đấy là năm thuận thiên thứ nhất – năm khởi đầu sự nghiệp lẫy lừng của nhà Lí – một triều đại có ý nghĩa hết sức quan trọng đưa văn hiến của nước nhà lên tầm cao. Phần mở đầu “Chiếu dời đô”, tuy là một bậc đế vương, là “thiên tử” nghĩa là có quyền thay trời quyết định mọi chuyện nhân gian, vậy mà vua Lý Thái Tổ vẫn viết những câu văn đặc biệt nhấn mạnh đến “ý dân”: “Trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân, nếu thấy thuận tiện thì thay đồi”. Trước hết, ông giải thích tại sao lại dời đô. Và bằng lập luận ngắn gọn nhưng sắc sảo, cùng với dẫn chừng thiết thực, nhà vua đã khẳng định: việc dời đô không phải là hành động, là ý muốn nhất thời của một người. Nó là biểu hiện cho xu thế tất yếu của lịch sử. Nhà vua đã chọn thành Đại La. Nơi đây không phải là Hoa Lư chật hẹp, mà là một nơi “trung tâm của trời đất”, nơi có thế “rồng cuộn hổ ngồi”, là nơi “đúng ngôi nam bắc đông tây” lại “nhìn sông dựa núi”, là nơi “rộng mà bàng, đất đai cao mà thoáng”. Ở nơi đây, nhân dân không phải sống chốn núi rừng hiểm trở, khắc nghiệt, đất nước có cơ hội phát triển kinh tế. Một nơi thuận lợi về tất cả mọi mặt, nhân dân được ấm no, thanh bình, như vậy, việc dời đô đã hợp với thiên thời địa lợi nhân hòa. Một vị vua với tầm nhìn sâu rộng có thể chỉ ra được những ưu thế đặc biệt của thành Đại La, ông hẳn là một người thông hiểu phong thủy, lịch sử, địa lý và còn có những suy tính lâu dài về chính trị. Hơn nữa, trong một chiếu thư trên dưới 200 chữ, nhà lãnh đạo này đã ba lần nhắc đến “dân” và “bách tính”, cho thấy quyết định dời đô của ông không xuất phát từ  mục đích phòng ngự, mà xuất phát từ ý muốn cho “dân cư khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt” đời sống của vua quan và toàn dân cũng khởi sắc vì “muôn vật cũng phong phú tốt tươi”, lấy lợi ích của trăm họ làm nền tảng quốc gia. Dời đô ra Thăng Long là một bước ngoặc lớn, đánh dấu sự trưởng thành của dân tộc đại Việt. Kinh đô Thăng Long là cái nôi lập đế nghiệp cho muôn đời là nơi để cho sơn hà xã tắc được bền vững muôn đời. Đọc văn bản “Chiếu dời đô” ta cảm nhận Lý Công Uẩn không những là một vị vua có tài mà còn có đức, ông xứng đáng là vị vua anh minh bậc tiên đế muôn đời. Quyết định dời đô của ông là rất sáng suốt bởi vì kinh đô Đại La đã vững mạnh suốt 200 năm, có nghĩa là nhân dân thái bình, no ấm trong suốt thời gian đó. Thành Đại La chính là thủ đô Hà Nội ngày nay, là linh hồn của Việt Nam. Thể chế chính trị cũng được phân cấp quản lí rõ ràng, dựa vào luật pháp nhiều hơn là sự chuyên quyền độc đoán của một cá nhân. Công lao dời đô và xây dựng đất nước của Lý Thái Tổ thực sự lớn lao, lưu danh muôn thuở với non sông nước Việt.

Thời kì nhân dân Đại Việt phải đương đầu với quân Nguyên – Mông hung hãn, vị nguyên soái Trần Quốc Tuấn tức Hưng Đạo Vương đã ba lần cầm quân đánh bại quân xâm lược. Cái tâm và cái tài của một vị tướng, một người con yêu nuớc, trung với vua được thể hiện rõ nét trong áng văn bất hủ “Hịch tướng sĩ”. Trước năm 1285, ông đã viết bài Hịch này với mục đích kêu gọi tướng sĩ học tập binh thư, rèn luyện võ nghệ để chuẩn bị đánh quân xâm lược. Những lời lẽ đanh thép mà chan chứa tình cảm, những lí lẽ sắc bén mà đi vào lòng người đã chỉ ra cho tướng sĩ thấy tội ác của bọn sứ giặc và những việc cần làm để chống giặc. Trần Quốc Tuấn thể hiện tài năng của mình thông qua việc nhìn ra bộ mặt của quân giặc, đồng thời nhìn ra được thế của quân ta. Tác giả ngứa mắt khi thấy “sứ giặc đi lại nghênh ngang”, ngứa tai khi chúng “uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình”. Tác giả rất khinh bỉ, đã “vật hoá” chúng, gọi là “dê chó”, là “hổ đói”. Ông mượn những tấm gương bậc nghĩa sĩ trung thần đã xả thân vì đất nước, vì nhân dân để khích lệ lòng tự trọng ở các tướng sĩ. Ông cũng biết lấy những suy nghĩ, việc làm của mình để khơi dậy lòng yêu nước của họ. Viết cho tướng sĩ, cũng như để bày tỏ nỗi lòng của mình, Trần Quốc Tuấn không khỏi băn khoăn lo lắng, ông “thường đến bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối; ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa chỉ căm tức chưa xả thịt lột da, nuốt gan, uống máu quân thù”. Không chỉ căm thù giặc mà Trần Quốc Tuấn còn nguyện hi sinh thân mình cho sự nghiệp đánh đuổi ngoại xâm, giành lại độc lập cho dân tộc: “Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng.” Ông quyết liệt phê phán những việc làm thái độ sai trái của tướng sĩ: thờ ơ, bàng quan trước vận mệnh Tổ quốc lâm nguy, quên mất trách nhiệm của mình đối với vận mệnh tổ quốc. Sau khi vẽ ra cái tiền đồ tối tăm của các tướng sĩ bê tha sau khi thua trận, mất nước, tác giả đã khuyên nhủ hết lời các tướng sĩ hãy tìm ra con đường chân chính mà tiến bước: học tập binh thư yếu lược để cứu nước. Lời tâm sự của Trần Quốc Tuấn với các tướng sĩ thật chân thành khiến các tướng sĩ một lòng khâm phục vị tướng tài vì xã tắc mà dám hi sinh, dám chiến đấu. Lịch sử đã chứng minh điều mà Trần Quốc Tuấn đã nói. Cùng với sự đồng lòng toàn dân toàn quân, Việt Nam đã dành thắng lợi trước kẻ thù hùng mạnh nhất thời kì đó. Trong đó vai trò lãnh đạo của người lãnh đạo đóng vai trò quyết định, ông được nhân dân Việt Nam tôn thờ gọi là Đức Thánh Trần.

Hơn một ngàn năm qua, lịch sử nước Việt đã trải qua bao sóng gió thăng trầm, nhưng công lao của Lý Thái Tổ và Trần Hưng Đạo mãi mãi là những vết son không phai trong văn học và lịch sử việt Nam. Qua hai áng văn “Chiếu dời đô” và “Hịch tướng sĩ”, chúng ta càng hiểu rõ hơn vai trò của người lãnh đạo anh minh có ý nghĩa vô cùng to lớn trong trường kì phát triển của dân tộc và thời nào cũng vậy dân tộc Việt Nam. Họ là tấm gương sáng ngời để đời sau soi vào đó mà học tập. Chúng ta hãy tiếp nối hào khí ngút trời của cha ông ta cùng xây dựng lên một Việt Nam giàu mạnh phồn thịnh, hòa nhập vào sự phát triển của thế giới nhé!

Nguồn Vietvanhoctro.com

Đánh giá bài viết
DMCA.com Protection Status