Đọc thêm: Vịnh khoa thi Hương

Đọc thêm: Vịnh khoa thi Hương

Hướng dẫn

Nhà thơ Tú Xương là một nhân chứng của lịch sử Việt Nam trong giai đòạn đất nước chuyển từ xã hội phong kiến sang xã hội thực dân nửa phong kiến. Ông đã đưa vào thi ca cái xã hội mình đang sống một cách khá cụ thể, chân thực và sinh động. Đặc biệt là qua bài Lễ xướng danh khoa thi Đinh Dậu, tuy chỉ vẽ lại cái cảnh trường thi nho nhỏ thôi nhưng bằng nghệ thuật trào phúng tài hoa điêu luyện của mình nhà thơ đã phơi bày được bản chất của cả xã hội Việt Nam thời ấy. Bài thơ ấy như sau:

Nhà nước ba năm mở một khoa

Trường Nam thi lẫn với trường Hà.

Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ,

Ậm ọe quan trường miệng thét loa.

Lọng cắm rợp trời quan sứ đến

Váy lê quét đất mụ đầm ra

Nhân tài đất Bắc nào ai đó,

Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà.

Đây là một bài thơ Nôm luật Đường thuộc thể thất ngôn bát cú (bảy chữ, tám câu) luật trắc vần bằng. Bài thơ này là một bức tranh chân thực và sinh động miêu tả quang cảnh kì thi Hương cuối mùa đầy lố lăng và trơ trẽn ở đất Bắc. Qua đây, nhà thơ cũng bộc lộ nỗi nhục mất nước và niềm đau xót của chính mình, một kẻ sĩ của thời bấy giờ.

1. Mở đầu bài thơ là hai câu đề:

Nhà nước ba năm mở một khoa,

Trường Nam thi lẫn với trường Hà.

Để giới thiệu khoa thi Hương năm Đinh Dậu 1897 này, trước hết nhà thơ nhắc lại một quy định bình thường của lệ thi cử xưa nay là cứ ba năm, nhà nước lại mở một khoa thi như thế. Câu thơ thứ hai tiếp theo lại cho thấy cái bình thường vừa nói trên đến năm Đinh Dậu lại trở nên không bình thường. Vì sao? Vì “Trường Nam thi lẫn với trường Hà”. Nam ở đây là Nam Định còn là Hà Nội. Cái không bình thường của lần thi này là trường Nam Định thi lẫn với trường Hà Nội. Thời nhà Nguyễn, theo lệ thường, đất Bấc có hai địa điểm tổ chức thi Hương là Nam Định và Hà Nội. Nhưng năm Đinh Dậu 1897 này vì bọn thực dân Pháp sợ các cuộc khởi nghĩa của nông dân chống lại nên không cho tố chức thi ở Hà Nội nữa. Triều đình nhà Nguyễn vì vậy đã dồn sĩ tử xuống cả Nam Định để thi. Từ “lẫn” ở đây nhà thơ dùng rất khéo thể hiện rõ tính chát lộn xộn, láo nháo, lôi thôi, thiếu nề nếp quy củ của cuộc thi.

2. Điều này còn được thế hiện rõ ràng sắc nét hơn nữa trong hai câu thực tiếp theo:

Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ,

Ạrn ọe quan trường miệng thét loa.

Ai chẳng biết những nhân vật trung tâm của cuộc thi là sĩ tửquan trường. Vậy mà sĩ tử ở đây thì lôi thôi còn quan trường ở đây thì “ậm ọe”. Phép đảo ngữ đưa các từ “lôi thôi”, “ậm ọe” lên đầu câu thơ đã gây được ấn tượng mãnh liệt cho người đọc. Sĩ tử là người đi thi. Quan trường là những ông quan lo việc tổ chức và coi thi. Hình ảnh vai đẹo lọ không những thể hiện tư thê mà còn thế hiện tư cách xốc xếch, lôi thôi của sĩ tử, những kẻ trí thức một thời từng được xếp vào hàng đầu trong xã hội phong kiến (nhất sĩ… mà!).

Bên cạnh hình ảnh vẹo xiêu lếch thếch của những ông cử nhân tương lai vừa nói là hình ảnh của lù quan trường “ậm ọe”. Khi ấy trong trường thi, đế chỉ dần, điều khiển và gọi tên sĩ tử, các quan trường phải dùng loa. Trường thi lại rất rộng, sĩ tử lại rất đông, do đó, quan trường phải thét vào loa người ta mới nghe được. “Miệng thét loa” là như vậy. ở đây nhà thơ chỉ làm công việc ghi nhận một cách trung thành bức tranh hiện thực. Cái tài hoa độc đáo và sắc sảo là ớ từ “ậm ọe”. Ậm ọe là từ tượng thanh. Đó là âm thanh ú ớ, nói không thành tiếng rõ ràng, nhưng đúng là giọng điệu la lối, lên gân hách dịch và vênh váo cùa lũ người chi biết dựa thế thần, không có thực quyền chi cả. Từ ấy phơi bày bộ mặt thật và bàn chất tay sai của đám quan trường khi ấy.

Đúng là trong trường thi lúc này, sĩ tử thì mất đi nét nho nhã, trí thức, nền nếp từ bao giờ, còn quan trường thì cũng không còn dáng vẻ tôn nghiêm đáng kính vốn có nữa.

Hai câu thực đôi nhau rất chỉnh này đã làm thành một bức tranh sinh động hết sức buồn cười cùa cảnh một trường thi. Cảnh tượng khôi hài đó phản ánh một xã hội láo nháo, nhố nhãng, hỗn tạp của chế độ thực dân nửa phong kiến đương thời, khi mà triều đình nhà Nguyễn chỉ còn là bù nhìn, Nó thảm hại đến mức buồn cười.

3. Liền mạch thơ với hai câu trên là hai câu luận càng bộc lộ rõ hơn điều vừa nói:

Lọng cắm rợp trời quan sứ đến,

Váy lê quét đất mụ đầm ra.

Vẫn là những đường nét điểm tô thêm vào bức tranh tả thực đã nói. Ai có đọc sách sử đều biết lễ khai mạc kì thi Hương năm Đinh Dậu 1897 này có cả vợ chồng tên Toàn quyền Paul Doumer và vợ chồng tên Công sứ Nam Định Le Normand đến dự.

Hình ảnh “quan sứ”“mụ đầm” ở đây là đế chỉ bọn chúng. Điều này phản ánh hết sức chân thật đúng với bản chất xã hội Việt Nam khi ấy. Đất nước đang chịu cảnh nô lệ. Người thật sự nắm chủ quyền đất nước là bọn thực dân. Chỉ cần thấy “lọng cắm rợp trời” là đủ hiểu. Hình ảnh “lọng cắm rợp trời” thể hiện cuộc tiếp đón “ông Tây, mụ đầm” thật là long trọng và kính cẩn nhưng đồng thời cũng cho thây tình cảnh vong quốc của dân tộc ta lúc bấy giờ.

Những cái đặc sắc và đầy thú vị nhất của hai câu thơ này đâu phải chỉ có ngần ấy, mà chủ yếu là ở ngón đòn trào phúng lợi hại của nhà thơ đã biến một đặc điểm nghệ thuật của thơ luật Đường trở thành vù khí sắc bén để khảng địch và bày tỏ thái độ của mình.

Còn gì đặc sắc và thú vị bằng lợi dụng nghệ thuật đối nhà thơ đã đặt cái “váy” của bà đầm ngang với lá “lọng” rợp trời trên dầu ông Tây. Cách đối đầy hình ảnh đó trong hai câu thơ chính là một ngón trào phúng lợi hại, một đòn rất đau của nhà thơ dành cho lũ quan thực dân. Ngay cách dùng từ cũng vậy “quan sứ” đốì với “mụ đầm”, đúng là khinh rẻ. Xưa nay từ mạ chỉ để gọi hạng đàn bà không ra làm sao. Gọi chồng là quan sứ trang trọng mà lại gọi vợ là “mụ dầm” là cái con mẹ chẳng ra gì thì chẳng là chửi chớ còn là gì nữa.

Với nghệ thuật miêu tá hiện thực cụ thế và sinh động, Tú Xương đã thể hiện thái độ phê phán sắc bén của mình. Chúng ta còn có thể tìm thấy ở bức tranh xã hội trên nồi đau mất nước của một tâm hồn, một tâm lòng đáng quý đó.

Sau cùng, là hai câu kết:

Nhân tài đất Bắc nào ai đó,

Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà.

Đây là lời buột miệng một cách tự nhiên của nhà thơ trước cảnh tượng trái tai gai mắt nói trên. “Đất Bắc” ở đây là chỉ vùng Bắc Hà nói chung, Hà Nội nói riêng, nơi lừng danh là kinh đô nghìn năm văn vật, nơi gặp gỡ, tụ hội của biết bao bậc hiền tài. ưu tú của đất nước ta. Câu thơ hãy “ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà” có thế là tiếng kêu thương hướng về bản thân mình mà cũng có thể là tiếng kêu gọi hướng tới những ai còn chút tâm huyết, biết nghĩ đến nỗi nhục vong quốc, những ai còn chút tự hào về truyền thông tốt đẹp và cao quý của cha ông.

Trong câu thơ cuối này nhà thơ đã sử dụng một từ táo bạo là “ngoảnh cổ” thay vì “ngoảnh lại” nhẹ nhàng, trang nhã như Bà Huyện Thanh Quan trong phần kết bài Qua Đào Ngang quen thuộc đã viết: “Dừng chân ngoảnh lại trời non nước”. Từ “ngoảnh cổ” ở đây vừa nặng nề vừa nhuốm đầy màu sắc trào phúng, châm biếm. Sở dĩ ông phải dùng đến từ này là vì trong thực tế. trước mắt ông, xung quanh ông còn biết bao kẻ cô’ ý hoặc vô tình làm ngơ, quay mặt đối với nỗi nhục vong quốc sờ sờ ra đó. Âm điệu của hai câu kết này còn chút gì đau xót xô’n xang! “Nhân, tài dắt Bắc” mà nhà thơ hướng tới ở đây là ai? Nếu không phải là kẻ sĩ Bắc Hà, những bậc trí thức thời đại, những kẻ đã và đang muôn vượt qua cái cửa của trường thi này.

4. Đọc xong bài thơ chúng ta chợt nhận ra rằng phía sau nụ cười của nhà thơ là nỗi đau. Trong cái cười sâu cay của ông chúng ta chợt thấy thấp thoáng bóng dáng của những giọt nước mắt rơi xuống vì một nỗi đau.

Tóm lại, qua bài thơ Lễ xướng danh khoa thi Đinh Dậu, Tú Xương tuy chi vẽ lại cảnh tượng của một trường thi nhỏ bé, nhưng đã bộc lộ được bản chất của cả cái xã hội thực dân nửa phong kiến lúc bấy giờ. Cái đặc sắc và thú vị nhất ở đây là nhà thơ đã biến nghệ thuật làm thơ Đường thành một ngón đòn đả kích sắc bén để tỏ bày thái độ của mình với đối tượng mình không ưa thích. Cũng như các bài thơ khác của cùng tác giả, đằng sau nụ cười là cả một tấm lòng đau xót của nhà thơ.

Mai Thu

Đánh giá bài viết
DMCA.com Protection Status