Học bài thơ “Thuật hoài” của Phạm Ngũ Lão sự hổ thẹn của tác giả là quá đáng, kiêu kì

Phạm Ngũ Lão quê ở làng Phù Dung, huyện Đường Hào, tỉnh Hưng Yên. Ông xuất thân bình dị, làm nghề đan sọt. Đó là một người có tài, là bề tôi tín nghĩa, trung thành chả Trần Hưng Đạo, là một vị tướng tài ba lập nhiều kì tích. Ông sinh ra vào thời loạn và trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống quân Mông- Nguyên. Đội quân do vị tướng Phạm Ngũ Lão chỉ huy phụ trách gọi là “phụ tử chi binh”. Là người nổi tiếng có khí phách, văn võ song toàn nên thơ ông cũng toát hết những vẻ đẹp ấy, tiêu biểu là bài thơ “Tỏ lòng“mà chúng ta được tìm hiểu trong chương trình Ngữ Văn lớp 10. Ở bài viết số 7 có đề 4 như sau: Khi học bài thơ này, có bạn cho rằng “sự hổ thẹn của tác giả là quá đáng, kiêu kì”. Ngược lại, có bạn ngợi ca và cho rằng đó là biểu hiện của một hoài bão lớn lao của người thanh niên yêu nước. Hãy nêu ý kiến của anh chị. Ở đề bài này các bạn cần đưa ra quan điểm của các nhân sau đó dùng lí lẽ và dẫn chứng để chứng minh. Sau đây là hai bài văn mẫu như những gợi ý để các bạn tham khảo. Chúc các bạn thành công!

BÀI VĂN MẪU SỐ 1 BÀI VIẾT SỐ 7 LỚP 10 ĐỀ 4 HỌC BÀI THƠ “THUẬT HOÀI” CỦA PHẠM NGŨ LÃO

Bài thơ “Thuật hoài” của Phạm Ngũ Lão ra đời trong không khí hào hùng, khi cuộc kháng chiến chống quân Mông Nguyên lần thứ hai sắp bắt đầu. Tác phẩm có sự xen kẽ giữa hai nguồn cảm hứng tự hào, tự tôn dân tộc và khát vọng lập công. Ngày nay, các thế hệ cùng trở về với hào hùng dân tộc một thời qua những tác phẩm thơ văn. Khi học bài thơ này, có bạn cho rằng “sự hổ thẹn của tác giả là quá đáng, kiêu kì”. Ngược lại, có bạn ngợi ca và cho rằng đó là biểu hiện của một hoài bão lớn lao của người thanh niên yêu nước.

Xem thêm:  Bình luận câu tục ngữ Đi một ngày đàng, học một sàng khôn

Hai ý kiến trái ngược nhau về sự hổ then của tác giả xuất phát từ tầm đón nhận của mỗi người. Nếu ý kiến thứ nhất chỉ nhìn câu thơ ở lớp nghĩa đen, nghĩa bề mặt nên không thấy được vẻ đẹp của người tráng sĩ thì nhận định thứ hai đã nhìn nhận một cách toàn diện giá trị nội dung của tác phẩm khi cả hai đều hướng đến việc nhận xét sự hổ thẹn của tác giả. Ý kiến đầu còn tỏ ra sự phê phán hồ đồ, thiếu hiểu biết. Ngược lại thì ý kiến thứ hai rất đúng đắn và có giá trị.

Hai câu thơ đầu tác giả bày tỏ nỗi lòng, cảm xúc của mình trước vẻ đẹp của hình tượng người tráng sĩ và quân đội nhà Trần đang làm nhiệm vụ bảo vệ non sông đất nước với giọng điệu hào hùng, ngôn ngữ giàu cảm xúc, hình ảnh ước lệ, bút pháp giàu tính sử thi:

  • “Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu
  • Tam quân tì hổ khí thôn ngưu”

Hai câu cuối, tác giả đi sâu vào nội tâm, tỏ lòng trực tiếp. Ta thấy phảng phất ở đó nỗi hổ thẹn với chính bản thân mình:

  • “Nam nhi vị kiễu công danh trái
  • Tu thính nhân gian thuyết vũ hầu”
  • (Công danh nam tử còn vương nợ
  • Luống thẹn tai nghe thuyết Vũ Hầu)

Tác giả có nói đến chí nam nhi, một cách nói quen thuộc trong văn hóa phong kiến thì chí nam nhi thường gắn với lí tưởng công danh. “Công danh” là công lao và danh tiếng. Kẻ làm trai sinh ra ở đời  phải biết lập nên công trạng, tạo dựng sự nghiệp, để lại địa vị, danh tiếng trong xã hội. Đó là con đường tất yếu với kẻ sĩ ở đời. Muốn khẳng định sự tồn tại của mình phải có công danh. Và chỉ có con trai mới lập nên công danh và đã là nam nhi thì lập công danh là một trách nhiệm. Quan niệm và lí tưởng công danh ấy có ý nghĩa tích cực bởi nó đã khích lệ tinh thần cống hiến và chiến đấu của biết bao trang nam tử ở đời để họ sẵn sàng rèn luyện có đủ phẩm chất để tề gia, trị quốc, bình thiên hạ bằng con đường dùi mài kinh sử, lều chõng đi thi, đỗ đạt khoa cử. Sau này Nguyễn Công Trứ cũng xem chuyện cônh danh như là lẽ sống của cuộc đời mình:

  • “Đã mang tiếng ở trong trời đất
  • Phải có danh gì với núi sông”
Xem thêm:  Viết đoạn văn ngắn chứng minh lòng thương người, thương vật, thương loài trong văn chương

Bản thân ý tưởng ấy đã làm bật lên vẻ đẹp trong chí khí và nhân cách của Phạm Ngũ Lão- một con người không chấp nhận cuộc đời tầm thường, vô nghĩa. Thời điểm viết bài thơ này, Phạm Ngũ Lão đã lập nên công danh sự nghiệp, có nhiều công trạng và kì tích. Vậy mà tác giả vẫn còn băn khoăn về chuyện mình chưa trả xong món nợ công danh “vị liễu công danh trái”. Mà nợ thì phải trả cho nên niềm day dứt phải chăng là biểu hiện cao nhất của khát vọng tiếp tục lập công, của ý thức tu thân, không ngừng vươn lên để hoàn thành nhiệm vụ; là biểu hiện của bầu nhiệt tâm, nhiệt huyết của người chí sĩ ở đời.

Câu thơ cuối cùng “tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu”, Phạm Ngũ Lão đã gắn với ý thức nợ công danh. Vũ Hầu chỉ Gia Cát Lượng tức Khổng Minh, một bậc trung thần, một nhân cách lớn. Gia Cát Lượng đã cống hiến không mệt mỏi và tử trận trong một lần chỉ huy đánh giặc. Phạm Ngũ Lão lấy Vũ Lượng Hầu- người tài năng xuất chúng, nhân cách hơn người làm mẫu mực  và thấy thẹn với chính mình bởi Gia Cát Lượng đã làm tròn việc trả nợ công danh đến hơi thở cuối cùng. Nỗi thẹn đó trước hết là nâng cao nhân cách Phạm Ngũ Lão, nung nấu khát vọng lập công, bày tỏ khát vọng được cống hiến cả đời mình cho dân tộc. Nỗi thẹn làm nên chí lớn tâm hùng của một bậc tài khí hơn người. Đó còn là nỗi thẹn cho thấy trách nhiệm, nghĩa vụ, ý chí của kẻ làm trai. Nỗi thẹn có khả năng tạo nên những hành vi nghĩa hiệp ở đời. Với Phạm Ngũ Lão- người đã từng đánh Đông dẹp Bắc lập nên nhiều chiến công vậy mà vẫn cứ thẹn thì quả là nỗi thẹn mang tầm vóc lớn lao, là nỗi thẹn tu thân chính đáng, nỗi thẹn của một con người đã cao đẹp còn vươn lên tầm óc lớn lao hơn.

Xem thêm:  Suy nghĩ về câu nói: Hạnh phúc bắt nguồn từ sự nỗ lực
Loading...

Bài thơ khép lại, để lại trong lòng người đọc nhiều dư ba. Đó không còn là nỗi thẹn của tác giả mà là cả bức chân dung con người và thời đại mang hào khí Đông A.

BÀI LÀM VĂN MẪU SỐ 2 BÀI VIẾT SỐ 7 LỚP 10 ĐỀ 4 NGHỊ LUẬN VỀ Ý KIẾN QUA BÀI THƠ “THUẬT HOÀI” CỦA PHẠM NGŨ LÃO

Âm hưởng tự bao đời của một thời đã đi qua vẫn vang mãi trong tim ta. Là chiến thắng tại Bạch Đằng giang cuộn sóng hồng của Ngô vương để mở ra một kỉ nguyên mới cho dân tộc. Là chiến thắng quân xâm lược Minh của vị chủ tướng Lê Lợi cùng bao người tài ba khác,…Những âm hưởng ấy không chỉ truyền mãi đến hôm nay và mai sau mà còn là cảm hứng bất tận trở về trong văn chương nghệ thuật để rồi những con người sống ở thời đại ấy đã viết lên những bài ca về thời đại mình. Phạm Ngũ Lão sống ở thời Trần- thời đại của hào khí Đông A và như một lẽ tất yếu, “Thuật hoài” của ông cũng mang âm hưởng của thời đại ấy. Nhận xét về bài thơ, có người cho rằng: Sự hổ thẹn của tác giả là thái quá, kiêu kì. Ngược lại, có bạn ngợi ca và cho rằng đó là biểu hiện một hoài bão lớn lao của người thanh niên yêu nước.

Mỗi người đều có quan điểm và cái lý của riêng mình. Nhưng theo tôi, bài thơ là biểu hiện một hoài bão lớn lao của người thanh niên yêu nước. Bởi trước hết, ngay từ mở đầu bài thơ, Phạm Ngũ Lão đã dành lời ngợi ca cho vẻ đẹp của người tráng sĩ thời Trần:

  • “ Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu
  • Tam quân tì hổ khí thôn ngưu”

Người tráng sĩ xuất hiện trong tư thế “ hoành sóc” gợi tư thế vững chãi, hiên ngang, sẵn sàng chiến đấu. Với bối cảnh “ giang sơn kháp kỉ thu” gợi một không gian rộng và một thời gian dài đã thể hiện được tầm vóc của con người vũ trụ với sự kiên định, bền bỉ, dẻo dai. Lời thơ còn đưa ta đến với hình ảnh một đội quân mạnh mẽ, hùng cường. Hai câu thơ đã khắc họa thành công tầm vóc của con người thời đại cũng như sức mạnh của dân tộc, làm sống dậy hào khí Đông A, bật lên sưc mạnh đoàn kết, cảm hứng tự hào, tự tôn dân tộc.

Bài thơ còn là biểu hiện một hoài bão lớn lao của một con người yêu nước vì tiếp đó, tác giả nhắc đến chí làm trai và nỗi thẹn của lòng mình:

  • “ Nam nhi vị liễu công danh trái
  • Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu”.

Nỗi lòng của nhà thơ hay cũng chính là vùng tâm tráng chí của một vị tướng tài ba. Chí làm trai – theo đó là quan điểm của Nho giáo: trang nam nhi thời phong kiến phải lập công lập danh, để lại sự nghiệp lẫy lừng, tiếng thơm muôn đời. Khát vọng ấy đã trở thành lý tưởng sống, trở đi trở về trong văn học trung đại:

  • “Chí làm trai dặm nghìn da ngựa
  • Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao”

Hay:

  • “ Chí làm trai nam bắc tây đông
  • Cho thỏa sức vẫy vùng trong bốn bể”.

Thời điểm viết bài, Phạm Ngũ Lão đã có đầy đủ công danh, sự nghiệp mà vẫn còn day dứt, băn khoăn về món nợ công danh chưa trả, qua đó bộc lộ nhân cách của một con người luôn khao khát cống hiến và mang ý thức tu thân. Ông không chỉ băn khoăn về món nợ công danh mà còn thẹn khi nhắc đến Vũ Hầu. Cổ sử ghi lại là con người tài năng, mưu lược, một vị quân sư, một trung thần giúp Lưu Bị lập nên nhà Thục Hán. Phạm Ngũ Lão lấy Gia Cát Lượng làm mẫu mực cho sự nghiệp của đời mình, thấy hổ thẹn khi công danh không bằng Vũ Hầu, nỗi thẹn nung nấu khát vọng lập công, nỗi thẹn không làm con  người trở nên thấp hèn mà càng tô đậm nhân cách của con người. Ta lại nhớ đến Nguyễn Khuyến thấy thẹn với ông Đào Uyên Minh vì vẫn còn dùng dằng không biết nên ở hay nên đi,  ngay cả khi đã xác định về với chốn cũ mà vẫn “ ngửa lên thẹn trời”. Đến đầu thế kỉ XX, khi chưa tìm được con đường đi cho dân tộc thì Phan Bội Châu:

  • “Thẹn cùng sông, buồn cùng núi, tủi cùng trăng”.

Ấy chính là nỗi thẹn của những nhân cách lớn, là nỗi lòng của những bậc trung quân ái quốc với khát vọng cống hiến trọn đời cho đất nước.

Bài thơ chính là biểu hiện một hoài bão lớn lao của Phạm Ngũ Lão, cũng là của thời đại bấy giờ. Vấn đề mà Phạm Ngũ Lão đặt ra không chỉ thuộc vè thời điểm lúc bấy giờ mà còn có ý nghĩa với muôn đời, rằng con người phải biết tu tâm, vượt lên để hoàn thiện, có trách nhiệm với giang sơn, xã tắc. Điều quan trọng hơn là lòng trung quân ái quốc phải đi liền với những hành động việc làm cụ thể. Âm hưởng của hào khí Đông A mãi mãi vang vọng như một khúc ca viết nên trang lịch sử của dân tộc.

Nguồn Vietvanhoctro.com

Loading...

Ứng dụng VĂN MẪU TỔNG HỢP trên điện thoại với hơn 30k bài văn mẫu hay nhất, giải bài tập SGK, soạn văn đầy đủ chi tiết. Hãy tải App ngay để chúng tôi phục vụ bạn tốt hơn nhé!

Nếu thấy bài viết hay, hãy động viên và chia sẻ ban biên tập! Các bình luận không phù hợp sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.

Leave a Reply

avatar
  Nhận thông báo qua email  
Nhận thông báo cho
DMCA.com Protection Status