Nêu cảm nghĩ sâu sắc nhất về một câu chuyện anh chị đã học

Mỗi tác phẩm văn học đều bắt nguồn từ hiện thực cuộc sống, được nuôi dưỡng bở bàn tay người nghệ sĩ và cũng nhờ cơn gió cuộc đời mà cất cánh bay cao. Mỗi trang văn đều giúp con người hiểu được bản thân mình, nâng cao niềm tin vào bản thân mình và làm nảy nở ở con người khát vọng hướng tới chân lí. Đến với văn chương không chỉ là cách để con người giải trí, nhânn thức mà còn để hiểu đời, hiểu người, hiểu mình để từ đó tự giáo dục bản thân, hướng tới cái chân thiện mĩ. Gấp lại một trang sách, để lại trong ta biết bao dư âm khó phai về một phong cảnh đẹp, một kiếp người nhỏ bé, bất hạnh, những triết lí trong cuộc sống… Tất cả đều được cất lên từ những câu chuyện đầy hấp dẫn. Và trong chương trình Ngữ văn lớp 1, ở bài viết số 1 chúng ta bắt gặp đề bài nêu cảm nghĩ nổi bật nhất về một câu chuyện mà anh (chị) đến nay vẫn không thể nào quên. Khi làm bài, các bạn cần đảm bảo các ý như đó là câu chuyện gì, viết về điều gì, thông điệp tác giả gửi gắm và cảm nghĩ của bản thân. Sau đây là hai bài văn mẫu như những gợi ý để các bạn tham khảo. Chúc các bạn thành công!

BÀI VĂN MẪU SỐ 1 BÀI VIẾT SỐ 1 LỚP 10 ĐỀ 4: NÊU CẢM NGHĨ NỔI BẬT NHẤT VỀ MỘT CÂU CHUYỆN MÀ ANH CHỊ ĐẾN NAY VẪN KHÔNG THỂ NÀO QUÊN

Andecxen từng chia sẻ rằng không có câu chuyện cổ tích nào đẹp hơn câu chuyện cổ tích cất lên từ cuộc đời. Và ngòi bút của ông đã hướng về những thân phận nhỏ bé, khổ cực như cô bé bán diêm. Và tác phẩm “cô bé bán diêm” đã để lại trong em nhiều ấn tượng khó phai.

Em bé mồ côi mẹ và bà nội cũng đã chết từ lâu. Em sống trong cảnh nghèo khổ với người cha nghiện ngập, lạnh lùng, tàn nhẫn. Hai cha con sống chui rúc trong một xó tối tăm trên gác sát mái nhà mà mùa đông không đủ ấm. Em phải đi bán diêm để kiếm sống. Trong đoạn trích nhà văn đã xây dựng hình ảnh tương phản giữa em bé và hoàn cảnh bên ngoài để tô đậm tình cảnh tội nghiệp của em. Đêm giao thừa trời Đan Mạch rét mướt, tuyết rơi, gió rít còn em bé bán diêm thì đầu trần chân đất lang thang ngoài đường “cửa sổ mọi nhà đều sáng rực ánh đèn” em bé thì rò rẫm trong bóng tối lạ lẫm. “Trong phố sực nức mùi ngỗng quay” em bé thì “bụng đói cồn cào” vì cả ngày chưa ăn cái gì. Vô cùng đáng thương là em bé phải chịu đựng mọi đói rét và khổ sở như thế mà không dám về nhà vì sợ bố đánh. Lúc này, khi mọi người đều ở nhà đón một đêm giao thừa rực rỡ, ấm áp thì em đang ngoài đường, ngồi nép trong một góc tường giữa hai ngôi nhà mỗi lúc một đêm rét buốt.

Xem thêm:  Tả một cây non mới trồng

Giữa tình cảnh khổ sở vì đói rét, em bé có một niềm ước mong hồn nhiên đơn giản đến tội nghiệp “giá quẹt một que diêm để sưởi cho đỡ rét một chút nhỉ?”. Ngọn lửa của que diêm thứ nhất bùng lên trong niềm vui giản dị, trong trẻo của em bé. Trong ánh sáng kì diệu, rực rỡ những ánh màu “em tưởng chừng như đang ngồi trước một lò sưởi bằng sắt có những hình nổi bằng đồng bóng loáng trong lò lửa cháy nom đến vui mắt và tỏa ra hơi nóng dịu dàng”. Que diêm tắt em bần thần cả người và lại nghĩ đến chuyện khi về nhà em bị cha mắng. Que diêm thứ hai cháy lên hiện ra trước mắt em là một bàn ăn thịnh soạn, trang trọng cùng với con ngỗng quay đang nhảy ra khỏi đĩa tiến về phía em. Que diêm tắt trước mắt em chỉ còn là những bức tường dày đặc và lạnh lẽo, phố xá vắng teo, lạnh buốt, gió bấc vi vu và những khách qua đường quần áo ấm áp mà nét mặt thì hoàn toàn lãnh đạm với hoàn cảnh tội nghiệp của em bé. Trong ánh sáng của que diêm thứ ba, em thấy hiện ra một cây thông noen lớn, trang trí lộng lẫy với hàng ngàn ngọn nến sáng sực… Có lẽ chưa bao giờ em nhìn thấy một cảnh tượng tuyệt vời đến vậy. Diêm tắt các ngọn nến bay lên biến thành những ngôi sao trên trời và em nghĩ đến lời của bà “một vì sao đổi ngôi là ai đó vừa chết”.

Xem thêm:  Thuyết minh về một loại hình ca nhạc, sân khấu mà anh chị yêu thích

Rét người ta cần hơi ấm, đói người ta mong được ăn. Trong đêm giao thừa người ta thèm đón giao thừa bên cây thông noen cùng gia đình. Những điều bình thường và hiển nhiên ấy đã được nhà văn thể hiện một cách hấp dẫn qua trí tưởng tượng phong phú, ngộ nghĩnh và nhiều khao khát tội nghiệp của trẻ thơ. Lò sưởi, bàn ăn, cây thông noen, tất cả là gương mặt cụ thể của niềm mơ ước đang hiện ra teong ánh sắc lung linh những sắc màu cổ tích. Vì là mơ ước, là mộng tưởng nên tất cả chỉ là những ảo ảnh thoáng qua và vụt tắt trước thực tế phũ phàng. Nhưng dẫu sao chúng cũng đem lại những khoảnh khắc hạnh phúc cho em bé.

Xúc động nhất là lần mộng tưởng cuối cùng của em bé. Que diêm thứ tư sáng lên, em bé nhìn thấy rõ ràng là bà em đang mỉm cười với em. Em bé sung sướng reo lên, cuống quýt vang xin bà cho em đi theo. Lần này, em không hoàn toàn chìm trong mộng tưởng mà chỉ trong trạng thái nửa thực nửa mơ. Em biết rằng khi diêm tắt thì bà cũng biến mất. Em biết rằng bà đã về với thượng đế chí nhân nhưng lại van xin bà, xin thượng đế cho về với bà và em tin rằng người không từ chối. Thật xót xa khi nghĩ rằng cuộc đời khổ sở và cô đơn, em khao khát tình thương, tin vào lòng nhân từ. Bà nội là tình thương, là niềm an ủi, là chỗ dựa tinh thần duy nhất của em cho nên lúc này em rất sợ bà bỏ đi. Tất cả những que diêm còn lại được đốt lên. Đó là ánh sáng của trái tim em đang cháy lên những ước mơ, những điều kì diệu, cháy lên niền khát khao được sống trong tình thương. Hình ảnh bà nội đẹp lão là biểu tượng của tình thương lớn lao và đẹp đẽ. Cái chết của em được miêu tả bằng một hình ảnh đẹp như huyền thoại. Hồn em đã lìa khỏi xác mà giống như sự bay bổng về trời của một tiểu thiên thần. Bằng tất cả tình thương yêu của mình, nhà văn đã miêu tả sự ra đi của em như một sự giải thoát cho một cuộc đời đầy đau khổ, thiếu tình thương để đến với thế giới tình thương.

Xem thêm:  Giải bài tập Ngữ văn lớp 6 bài 26: Cây tre Việt Nam

Chỉ có nhà văn thông cảm và thương yêu em nên mới miêu tả thi thể em với đôi má hồng và đôi môi đang mỉm cười. Nhà văn còn hình dung ra cả niềm hạnh phúc của em trong cảnh huy hoàng: hai bà cháu bay lên để đón niềm vui đầu năm.

Trong cái xã hội thiếu tình thương này, chỉ có những người giàu lòng nhân ái như Andecxen mới cúi xuống nỗi bất hạnh của một em bé, kể cho người ta nghe về câu chuyện cảm động, đau thương này và gửi đi bức thông điệp trên trang sách: hãy sống nhân ái với mọi người để không còn những mảnh đời bất hạnh như cô bé bán diêm.

BÀI LÀM VĂN SỐ 2 NÊU CẢM NGHĨ SÂU SẮC NHẤT VỀ MỘT CÂU CHUYỆN ANH CHỊ ĐÃ HỌC MÀ ĐẾN NAY VẪN KHÔNG THỂ NÀO QUÊN 

Có một ngòi bút luôn hướng về hình ảnh những con người lao động mới trong thời kỳ miền Bắc đi lên xây dựng xã hội chủ nghĩa bằng lối văn xuôi nhẹ nhàng, trong sáng bàng bạc chất thơ mà vẫn để lại những triết lí sâu sắc về cuộc sống, đó chính là cây bút chuyên viết truyện ngắn và kí – Nguyễn Thành Long. “Lặng lẽ Sa Pa” là tác phẩm tiêu biểu của ông. Truyện ca ngợi, khẳng định vẻ đẹp con người lao động và ý nghĩa của công việc thầm lặng. 

Loading...

 Truyện ra đời vào những năm 70 của thế kỉ XX thời kỳ miền Bắc đang thực hiện kế hoạch 55 lần thứ ba. Khi đó cả đất nước sôi sục trong khí thế làm việc để cống hiến xây dựng đất nước, đấu tranh giải phóng dân tộc. Những con người đó không phải sống cho mình mà sống cho sự nghiệp chung bằng tình yêu, sức lực của mình. “Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long bắt rễ từ hiện thực ấy, viết về những con người bình dị vô danh, miệt mài làm việc, lặng thầm cống hiến hết mình cho đất nước. 

“Lặng lẽ Sa Pa” là câu chuyện về những con người vô danh đến từ những vùng đất khác nhau, làm những công việc khác nhau. Đó là anh thanh niên trẻ tuổi làm công tác khí tượng kiêm vật lý địa cầu, là ông họa sĩ già với chuyến đi thực tế cuối cùng trước khi nghỉ hưu, là cô kỹ sư trẻ với chuyến đi thực tế đầu tiên. Họ đều không có tên riêng, không được miêu tả chi tiết về ngoại hình và tính đặc biệt. Những con người này ở các vùng quê khác nhau, công tác ở những lĩnh vực khác nhau, họ là những con người bình thường, giản dị mà ta sẽ bắt gặp ở bất kỳ đâu trong cuộc sống. 

Nhưng không đơn thuần là viết về những con người vô danh ấy mà “Lặng lẽ Sa Pa” là sự khám phá vẻ đẹp trong tâm hồn và lẽ sống của con người lặng lẽ dâng cho đời tình yêu và sức lực của mình, tiêu biểu là nhân vật anh thanh niên, ông họa sĩ, cô kĩ sư. Nét nổi bật ở nhân vật anh thanh niên là tình yêu, tinh thần trách nhiệm với công việc. Bằng công việc anh đã góp một phần thầm lặng mà ý nghĩa trong cuộc sống. Anh thanh niên sống một mình trên đỉnh núi cao, quanh năm chỉ có cây cỏ và mây mù lạnh lẽo trong khi anh ta mới 27 tuổi, đang ở độ tuổi trẻ trung. Đặt anh thanh niên vào thử thách phải đối mặt với nỗi cô đơn, vắng vẻ. Anh làm công tác khí tượng kiêm vật lý địa cầu với nhiệm vụ đo gió, đo mưa, đo nắng, tính mây, đo chấn động mặt đất, dự vào việc báo trước thời tiết hàng ngày phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu. Công việc đòi hỏi sự chính xác, tỉ mỉ và tinh thần trách nhiệm cao, vậy mà anh thanh niên ấy làm việc với tất cả niềm say mê, đã gắn bó với nó được bốn năm. Không những thế anh còn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trong cuộc gặp gỡ trò chuyện 30 phút với ông họa sĩ, cô kĩ sư, anh kể một cách vắn tắt nhưng khá đầy đủ về công việc, cuộc sống của mình bằng một giọng say sưa, chân thành: “Cháu ở đây có nhiệm vụ… Đây là máy móc của cháu… Công việc nói chung dễ,  chỉ cần chính xác”. Công việc nhàm chán lặp lại vậy mà sao người thanh niên ấy vẫn tự hào và hãnh diện? Có lẽ bởi lòng yêu nghề, tinh thần trách nhiệm cao với công việc đã giúp anh vượt qua tất cả những khó khăn của lần ốp lúc một giờ đêm mưa tuyết buốt lạnh. Hơn thế, người con trai ấy còn cảm thấy hạnh phúc thực sự khi lập được chiến công “góp phần phát hiện một đám mây khô mà ngày ấy, tháng ấy, không quân ta hạ được bao nhiêu phản lực Mỹ trên cầu Hàm Rồng”, đem lại lợi ích cho đất nước. Nguyễn Thành Long đã tìm thấy ở người thanh niên một quan niệm về công việc – làm việc được cống hiến và sống là để làm việc. Anh coi công việc là bạn, là niềm vui sống mà cất nó đi thì anh buồn đến chết mất bởi “việc của anh gắn liền với công việc bao anh em đồng chí dưới kia”. Anh thấy mỗi con người sinh ra là để làm việc, để cống hiến: “Mình sinh ra là gì, mình đẻ ở đâu, mình vì ai mà làm việc?”.

Một vẻ đẹp toát lên từ trong tâm hồn người anh thanh niên làm công tác khí tượng đó chính là sự cởi mở, quan tâm đến người khác cùng lối sống trẻ trung yêu đời đã mang lại niềm vui bất ngờ cho mọi người, cho cuộc sống vùng cao thêm hương sắc: ngôi nhà ba gian ngăn nắp, vườn hoa rực rỡ sắc màu mà khi có khách dưới xuôi lên anh cắt hoa để tặng khách. Biết tin vợ bác lái xe bị ốm, anh gửi biếu củ tam thất. Khách đến anh mời vào nhà nói chuyện, pha nước chè Yên Sơn để đãi khách. Khi khách ra về anh còn tặng cả làn trứng để khách ăn đi đường. Vẻ đẹp bình dị, thầm lặng của anh thanh niên đã góp phần đem lại thành quả cho cuộc sống, khơi gợi trong mọi người nhận thức sâu sắc về lẽ sống, cuộc đời. 

Cũng giống như anh thanh niên, ông họa sĩ là một lão thành say mê với công việc, tâm huyết sáng tạo nghệ thuật. Ông luôn khao khát đi tìm cái đẹp và khi bắt gặp anh thanh niên, ông đã  xúc động, bối rối vì đã bắt gặp một điều mà ông từng ao ước. Song ông lại trăn trở “làm sao cho người xem hiểu được anh ta mà không phải hiểu như một ngôi sao xa” bởi “người con trai ấy đáng yêu thật nhưng làm cho ông nhọc quá”. Vậy là ông luôn ủ chứa những khát khao nghệ thuật để dâng lên cho đời.

Tiếp nối thế hệ những con người như anh thanh niên là hình ảnh cô kĩ sư vừa tốt nghiệp đại học. Cô đã dũng cảm từ bỏ chốn phồn hoa đô thị để về với mảnh đất Tây Bắc xa xôi của Tổ quốc, để được lao động, được cống hiến. Trong cuộc trò chuyện với anh thanh niên, cô đã thấy quyết định của mình là đúng khi từ bỏ mối tình nhạt nhẽo thời sinh viên để theo đuổi hành trình cống hiến về Tổ quốc.

Ba con người, ba nhân vật khác nhau, công việc, tuổi tác khác nhau nhưng họ đã gặp nhau tại một điểm tỏa sáng bởi lẽ sống say mê làm việc, cống hiến vì đất nước. Họ đang thầm lặng lao động nhưng đã làm cho cuộc sống đẹp hơn biết bao! “Lặng lẽ Sa Pa” là bức tranh tưởng như hoang vu, lạnh lẽo, im lìm, nhưng không, đó chỉ là vẻ bề ngoài, còn bên trong là cả một không khí sục sôi của những con người bình dị không tên. Họ đến từ những miền đất khác nhau, tìm đến Sa Pa để làm việc, lặng lẽ hiến dâng cho đời bằng tất cả tài năng, trí tuệ và nhiệt huyết của mình. Bức tranh ấy được Nguyễn Thành Long khắc họa bằng cốt truyện đơn giản với tình huống truyện nhẹ nhàng: chỉ là cuộc gặp gỡ tình cờ giữa những con người không quen trong thời gian ngắn ngủi. Ngôn ngữ, hình ảnh đẹp, nhịp điệu văn nhẹ nhàng góp phần tạo nên chất thơ cho tác phẩm. Đặc biệt, cách xây dựng nhân vật đặc sắc: nhân vật không được đặt tên, không được miêu tả ngoại hình, chỉ hiện ra qua cảm nhận của người khác. Dường như tác giả muốn vô danh hóa, muốn bình thường hóa những con người ấy để muốn nói với bạn đọc rằng trong công cuộc lao động xây dựng chủ nghĩa xã hội ở bất kỳ lứa tuổi nào, ta cũng đều bắt gặp những con người bình dị đang miệt mài làm việc cống hiến hết mình cho đất nước. Cùng với “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận, truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” một lần nữa gợi lại ý nghĩa niềm vui lao động chân chính của con người.

Gần nửa thế kỷ trôi qua mà giá trị của “Lặng lẽ Sa Pa” vẫn còn nguyên đó. Tác phẩm mãi nhắc nhở chúng ta lẽ sống cống hiến hết mình vì đất nước.

Nguồn Vietvanhoctro.com

Loading...

Ứng dụng VĂN MẪU TỔNG HỢP trên điện thoại với hơn 30k bài văn mẫu hay nhất, giải bài tập SGK, soạn văn đầy đủ chi tiết. Hãy tải App ngay để chúng tôi phục vụ bạn tốt hơn nhé!

Nếu thấy bài viết hay, hãy động viên và chia sẻ ban biên tập! Các bình luận không phù hợp sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.

Leave a Reply

avatar
  Nhận thông báo qua email  
Nhận thông báo cho
DMCA.com Protection Status