Phân tích bài Chiếu cầu hiền của Ngô Thì Nhậm

Phân tích bài Chiếu cầu hiền của Ngô Thì Nhậm – Bài làm 1

Ngô Thì Nhậm (1746 – 1803), hiệu là Hi Doãn, quê ở làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông (cũ), nay thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội. Ông đỗ tiến sĩ năm 1775, từng làm quan dưới triều Lê – Trịnh; sau đi theo Tây Sơn và có nhiều đóng góp nên được Quang Trung trọng dụng. Nhiều văn kiện giấy tờ quan trọng của nhà Tây Sơn đều do ông biên soạn. Vâng lệnh vua Quang Trung, ông đã viết bài Chiếu cầu hiền. Đây là một văn kiện quan trọng thể hiện chủ trương đúng đắn của nhà Tây Sơn nhằm động viên tầng lớp trí thức Bắc Hà tham gia xây dựng đất nước; đồng thời phản ánh tầm nhìn xa trông rộng và tấm lòng vì dân, vì nước của Quang Trung Nguyễn Huệ.

Bài Chiếu gồm ba phần:

Phần 1: Từng nghe… đến người hiền vậy: Phận sự (do Trời định) của người hiền tài là phải đem tài năng phục vụ cho vua, cho nước.

Phần 2: Trước đây… đến buổi ban đầu của trẫm hay sao ? Phê phán nhẹ nhàng các cách ứng xử có phắn tiêu cực của một số sĩ phu Bắc Hà và nêu lên nhu cầu sử dụng hiền tài rất cấp thiết của triều đình Tây Sơn.

Phần 3: Chiếu này… đến đều biết. Con đường rộng mở để người hiền tài cống hiến cho đất nước.

Trước tình hình chúa Trịnh ngày càng lộng quyền lấn át vua Lê, Nguyễn Huệ đã thần tốc kéo quân ra Bắc “phù Lê diệt Trịnh” (1786); thừa thắng đánh tan hai mươi vạn giặc Thanh, dẹp yên thù trong giặc ngoài, thống nhất đất nước, lập ra triều đại Tây Sơn. Trong giới sĩ phu Bắc Hà có nhiều nhà Nho sáng suốt đã ủng hộ Tây Sơn. Tuy vậy, một số người do quan niệm đạo đức bảo thủ, không nhận thấy chính nghĩa và sứ mệnh lịch sử to lớn của phong trào Tây Sơn nên đã có thái độ bất hợp tác, thậm chí chống lại. Một nhiệm vụ chiến lược đối với vua Quang Trung là phải thuyết phục tầng lớp trí thức Bắc Hà hiểu đúng vai trò và những dự kiến xây dựng đất nước của triều đình Tây Sơn, để từ đó tự nguyện cộng tác, đem tài đức phục vụ cho triều đại mới.

Mở đầu bài Chiếu, tác giả chi ra quy luật xuất xử của các bậc hiền tài:

Từng nghe nói rằng: Người hiền xuất hiện ở đời, thì như ngôi sao sáng trên trời cao. Sao sáng ắt chầu về ngôi Bắc Thần, người hiền ắt làm sứ giả cho thiên tử. Nếu như che mất ánh sáng, giấu đi vẻ đẹp, có tài mà không được đời dùng, thì đó không phải là ý trời sinh ra người hiền vậy.
Tác giả khẳng định, người hiền (người có đức có tài) phải phục vụ đắc lực cho nhà vua (thiên tử). Nếu không làm như vậy là trái với ý trời. Quy luật của thiên nhiên là sao sáng ắt chầu về ngôi Bắc Thần (tức sao Bắc Đẩu). Hiền tài là tinh hoa của trời đất nên lẽ đương nhiên là tài đức của họ phải được cống hiến cho dân, cho nước.

Từ khi nước ta chia thành Đàng Trong và Đàng Ngoài thì người Đàng Ngoài (Bắc) cho rằng Đàng Trong (Nam) thuộc triều đại khác. Hơn nữa, theo quan niệm chính thống của tầng lớp Nho sĩ thì chi những người xuất thân từ dòng dõi đế vương hoặc quý tộc mới xứng đáng và có khả năng làm vua. Nguyễn Huệ lại xuất thân từ tầng lớp bình dân, vì thế không ít Nho sĩ Bắc Hà không những không phục mà còn tỏ vẻ coi thường, cho rằng ông ít hiểu biết về lễ nghi cũng như chữ nghĩa thánh hiền. Nắm được tâm lí này, nên khi thể hiện tư tưởng cầu hiền của Nguyễn Huệ, Ngô Thi Nhậm đã dùng nhiều điển tích rút từ các sách kinh điển Nho gia, dùng lời dạy của Khổng Tử để đặt vấn đề và đưa ra cách ứng xử có sức thuyết phục mạnh mẽ đối với trí thức Bắc Hà. Cách diễn đạt đó đã tạo ra ấn tượng sâu sắc, đánh trúng vào tâm lí của tầng lớp trí thức, cho nên có sức thuyết phục lớn, khiến họ không thể không mang tài đức ra giúp triều đình Tây Sơn.

Khi Quang Trung kéo quân ra Bắc phò Lê diệt Trịnh, tầng lớp sĩ phu Bắc Hà có nhiều phản ứng khác nhau nhưng phần lớn giống nhau ở chỗ là không nhiệt tình với triệu đại mới:

Trước đây thời thế suy vi, Trung châu gặp nhiều biến cố, kẻ sĩ phải ở ẩn trong ngòi khe, trốn tránh việc đời, những bậc tinh anh trong triều đường phải kiêng dè không dám lên tiếng. Cũng có kẻ gõ mõ canh cửa, cũng có kẻ ra biển vào sông, chết đuối trên cạn mà không biết, dường như muốn lẩn tránh suốt đời.

Sau khi dẫn lời Khổng Tử và nêu lên quy luật của đất trời là những người tài đức phải giúp vua dựng nước, tác giả nói đến tình cảnh của kẻ sĩ lúc bấy giờ: mệt số người tài đức thì đi ở ẩn trong khe núi, trốn tránh việc đời, bỏ phí tài năng. Những người ra làm quan với triều Tây Sơn thì hoặc sợ hãi im lặng (kiêng dè không dám lên tiếng), hoặc làm việc cầm chừng (gõ mõ canh cửa). Một số khác ở ẩn, khác chi như người bị chết đuối trên cạn. Thậm chí một số người tự tử để giữ lòng trung với vua Lê.

Tác giả không nói thẳng mà dùng hình ảnh mang ý nghĩa tượng trưng lấy trong kinh điển Nho gia. Làm như vậy vừa tế nhị, vừa có tính chất phê phán nhẹ nhàng, lại tỏ ra người viết có kiến thức sâu rộng, có tài văn chương, khiến người nghe nể trọng, không những không tự ái mà còn tự cười, tự trách về thái độ ứng xử chưa thoả đáng của mình.

Sau khi chi ra mấy cách ứng xử có phần tiêu cực của một số sĩ phu Bắc Hà, vua Quang Trung bày tỏ tâm sự của mình và đặt ra những câu hỏi buộc người nghe phải suy ngẫm rồi tự trả lời:

Xem thêm:  Cảm nhận của anh (chị) về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm

Nay trẫm đang ghé chiếu lắng nghe, ngày đêm mong mỏi, nhưng những người học rộng tài cao chưa thấy có ai tìm đến. Hay trâm ít đức không đáng để phò tá chăng? Hay đang thời đổ nát chưa thể ra phụng sự vương hầu chăng?

Những người hiền đến lúc này mà vẫn chưa chịu hợp tác với triều đình mới thì hoặc là coi vua Quang Trung it đức, không xứng để phò tá; hoặc viện cớ tình hình xã hội đang thời đổ nát cả hai điều ấy đều không đúng với hoàn cảnh hiện tại. Vậy thì chi còn cách là phải đem tài đức ra phục vụ và phục vụ hết lòng cho triều đại mới.

Sự nghiệp đại định của đất nước đòi hỏi các bậc hiển tài phải cống hiến tài năng, nhiệt huyết. Thái độ chiêu hiền đãi sĩ của vua Quang Trung là rất chân thành. Nhà vua tỏ rõ sự khiêm tốn, thực lòng mong muốn có sự cộng tác của các bậc hiền tài để xây dựng một triều đại mới vững mạnh:

Kìa như, trời còn tăm tối, thì đấng quân tử phải trổ tài. Nay đương ở buổi đầu của nền đại định, công việc vừa mới mở ra. Kỉ cương nơi triều chính còn nhiều khiếm khuyết, công việc ngoài biên đương phải lo toan. Dân còn nhọc mệt chưa lại sức, mà đức hoá của trẫm chưa kịp nhuần thấm khắp nơi. Trẫm nơm nớp lo lắng, ngày một ngày hai vạn việc nảy sinh. Nghĩ cho kĩ thì thấy rằng: Một cái cột không thể đỡ nổi một căn nhà lớn, mưu lược một người không thể dựng nghiệp trị bình. Suy đi tính lại trong vòm trời này, cứ cái ấp mười nhà ắt phải có người trung thành tín nghĩa. Huống nay trên dải đất văn hiến rộng lớn như thế này, há trong đó lại không có lấy một người tài danh nào ra phò giúp cho chính quyền buổi ban đầu của trẫm hay sao ?

Lập luận trong đoạn văn này rất chặt chẽ, có lí có tình. Nhà vua chi rõ tính chất của thời đại và nhu cầu trước mắt của đất nước, đồng thời cũng thẳng thắn tự nhận những điều bất cập của triều đại mới do mình đứng đầu như chính sách cai trị còn nhiều thiếu sót, việc biên ải chưa yên, dân chưa hồi sức sau chiến tranh, đức hoá của vua chứa thấm nhuần,… Trong khi đó, công việc ngày càng nhiều và trách nhiệm của triều đình ngày càng nặng nề, đòi hỏi phải có sự trợ giúp của các bậc hiền tài. Hình ảnh: Một cái cột không thể đỡ nổi một căn nhà lớn và mưu lược của một người không thể dựng nghiệp trị bình là nhận xét khách quan, đúng đắn, thể hiện tư tưởng lấy dân làm gốc và tầm nhìn chiến lược sáng suốt của vua Quang Trung ồ thời điểm ấy.

Kết thúc đoạn văn, tác giả lại dẫn lời Khổng Tử trong sách Luận ngữ để khẳng định rằng hiện nay nhân tài không những có, mà còn có nhiều. Vậy tại sao trên dải đất văn hiến rộng lớn như thế này, há trong đó lại không có lấy một người tài danh nào ra phò giúp cho chính quyền buổi ban đầu của trẫm hay sao ? Câu hỏi tha thiết đó buộc giới sĩ phu Bắc Hà phải suy nghĩ và thay đổi cách ứng xử.

Lời nói khiêm nhường, chân thành và lập luận có lí có tình cùng chính sách sử dụng hiền tài rộng rãi của nhà vua khiến các bậc hiền tài không thể không đem tài đức ra giúp triều đại mới:

Chiếu này ban xuống, các bậc quan viên lớn nhỏ, cùng với thứ dân trăm họ, người nào có tài năng học thuật, mưu hay hơn đời, cho phép được dâng sớ tâu bày sự việc. Lời nói nào có thể chọn dùng được, thì cất nhắc không kể thứ bậc; chỗ nào không dùng được thì gác lại, không vì lời nói sơ suất vu khoát mà bắt tội. Còn người có nghề hay nghiệp giỏi, có thể cống hiến cho đời, thì cho phép các quan văn, quan võ được tiến cử, nhưng vẫn dẫn vào đợi ra mắt, tuỳ tài lục dụng. Hoặc người nào từ trước đến nay tài năng còn bị che kín, chưa được người đời biết đến, thì cũng cho phép dâng sớ tự tiến cử, chớ hiềm vì mưu lợi mà phải bán rao.

Đường lối cầu hiền của vua Quang Trung đúng đắn và rộng mở. Trước hết, tất cả mọi tầng lớp nhân dân từ quan viên lớn nhỏ đến dân chúng trăm họ đều được phép dâng sớ bày tỏ ý kiến về việc nước, nghĩa là ai cũng có quyền tham gia đóng góp vào sự nghiệp xây dựng đất nước. Cách tiến cử cũng đa dạng, gồm hai cách: do các quan tiến cử hoặc bản thân dâng sớ tự tiến cử. Cuối cùng, nhà vua kêu gọi người có tài đức hãy cùng triều đình chung vai gánh vác việc nước để cùng nhau hưởng phúc lâu dài:
… Trong khoảng trời đất, hiền tài còn ẩn náu, trước đây thì nên như thế. Nay trời trong sáng, đất thanh bình, chỉnh là lúc người hiền gặp hội gió mây, những ai có tài đức hãy cùng cố gắng lên, ghi tên tại triều đình, cùng nhau cung kính, cùng nhau hưởng phúc lành tôn vinh.

Loading...

Chiếu cầu hiền là một bài văn nghị luận có tính mẫu mực, thể hiện ở sự chặt chẽ và tính lôgíc của các luận điểm, ở tài thuyết phục khéo léo và thái độ khiêm tốn, chân thành của người viết. Các điển cố được sử dụng trong bài Chiếu cho thấy nhận thức tinh tế của người viết về đối tượng cần thuyết phục là tầng lớp trí thức. Người viết tỏ ra có trình độ hiểu biết sâu rộng, đủ khả năng thuyết phục một đối tượng như thế. Cách diễn đạt của bài Chiếu tạo ấn tượng tốt về vua Quang Trung – một con người văn võ kiêm toàn; đồng thời chuyển tải được nội dung một cách hàm súc, trang trọng.

Xem thêm:  Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng

Bài Chiếu cầu hiền thể hiện tầm nhìn chiến lược của vua Quang Trung trong việc nhận thức vể vai trò quan trọng của hiền tài đối với đất nước. Hiền tài là nguyên khi quốc gia. Cầu hiền gần như là một quy luật tất yếu đối với các triều đại tiến bộ khi mới ra đời. Ngô Thì Nhậm nắm vững chiến lược cầu hiền của vua Quang Trung và đã thể hiện một cách xuất sắc tư tưởng chiến lược đó qua bài Chiếu cầu hiền ngắn gọn nhưng đầy sức thuyết phục.

Phân tích bài Chiếu cầu hiền của Ngô Thì Nhậm – Bài làm 2

Kho tàng văn học Việt Nam không chỉ hay bởi những bài thơ hay những bài văn có nghĩa mà còn có những thể loại khác cũng góp phần làm đa dạng và phong phú nền văn học nước mình. Trong những thể loại ấy phải kể đến tác phẩm chiếu cầu hiền của vua Quang Trung. Tác phẩm không chỉ đơn giản là một tác phẩm văn học mà còn là một bản chiếu vua ban có tác dụng đến vận mệnh của quốc gai và sự phát triển của đất nước. Có thể nói chiếu cầu hiền là một văn bản giàu ý nghĩa và thiết thực cho lịch sử nước ta lúc bấy giờ.

Chiếu cầu hiền được viết khi vua Lê Chiêu Thống rước quân Thanh vào xâm lược nước ta, Nguyễn Huệ lên ngôi vua lấy hiệu là Quang Trung rồi đem quân ra Bắc để quét sạch 20 vạn quân Thanh cùng bọn tay sai bán nước. Thua trận Lê Chiêu Thống cùng bọn quân Thanh đi theo Tôn Sĩ Nghị, triều Lê sụp đổ, triều Nguyễn được vua Quang Trung lập lên. Trước sự kiện trên một quan thần trong triều Lê có thể là do theo trung quân ái quốc lỗi thời với thời Lê, hai là có thể do sợ hãi triều đại mới nên tất cả đều trốn tránh ẩn nấp không ra phò tá giúp đỡ vua Quang Trung phát triển đất nước. Biết tình hình đất nước nhà như vậy Quang Trung đã liền phái Ngô Thì Nhậm thay mình viết chiếu cầu hiền để kêu gọi những người tài giỏi ra giúp nước.

Có thể nói vua Quang Trung rất đỗi khôn ngoan khi nghĩ ra kế sách này. Qua đó thể hiện niềm khát khao cầu hiền của nhà vua trẻ tài đức. Mặt khác thấy được sự uyên bác của Ngô Thì Nhậm khi viết ra một bức chiếu có sức thuyết phục như vậy.

Về phần Ngô Thì Nhậm, khi triều Trịnh – Lê sụp đổ, Ngô Thì Nhậm đã đi theo phong trào Tây Sơn và được cử làm Lại Bộ Tả Thị lang. Ông trở thành một quan thần tín nhiệm của vua Quang Trung.

Trước hết ta đi tìm hiểu về thể loại chiếu, chiếu được hiểu là một thể  loại văn thư do nhà vua để ban bố mệnh lệnh đến dân chúng. Công văn hành chính ngày xưa gồm hai loại đó là do cấp dưới đệ trình lên nhà vua, hai là do nhà vua ban bố xuống dưới. chúng ta có thể thấy được nhiều bài chiếu trong kho tàng văn học Việt Nam. Đó là bài chiếu dời đô, hoàng lê nhất thống chí, hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Và chính những bài chiếu tiêu biểu đó đã khẳng định sức thuyết phục của thể loại chiếu. Chiếu nói chung và chiếu cầu hiền nói riêng thuộc loại văn nghị luận chính trị xã hội. Mặc dù chiếu thuộc công văn nhà nước nhưng lại viết cho những bậc hiền tài, hơn nữa đây là cầu là vua Quang Trung cầu hiền tài chứ không phải mệnh lệnh.

Đi vào bài chiếu điều đầu tiên mà tác giả nói đến chính là vai trò và sức mạnh của hiền tài cho quốc gia. Chẳng thế mà ngay tên bài chiếu nọ đã nói lên tất cả những vai trò to lớn của hiền tài, đó là nhan đề hiền tài là nguyên khí của quốc gia. Và chính vì thế tác giả nêu cao vai trò của hiền tài trong sự nghiệp phát triển đất nước. Tác giả so sánh hiền tài như một “ sao sáng trên trời cao”. So sánh như vậy để thấy được tầm vóc của những hiền tài giống như những gì vĩnh hằng của thiên nhiên. Đó là một sự tôn vinh khen ngợi đối với những bậc hiền tài. Mà những bậc hiền tài ấy sẽ phải theo Bắc thần đó là một quy luật hiển nhiên. Người tài so trời sinh ra và người tài ấy phải có phận sự sử dụng tài năng của mình cống hiến cho đất nước. phải chăng đó cũng là cách mà tác giả muốn cho sĩ phu hiền tài thấy được vua Quang Trung biết trọng người tài và rất mực cầu hiền để cùng vua giúp nước. Từ đó góp phần xóa đi những nghi ngờ sợ hãi của những bậc hiền tài. Nó rất hợp lý khi đã tạo ra chính tính chính danh cho chiếu cầu hiền. Hơn nữa qua những lời khen ngợi hay cũng chính là lời mời gọi của tác gải đã góp phần làm cho bài chiếu thêm phần thuyết phục người nghe.

Tiếp đến là đoạn văn tiếp theo nói về nguyện vọng của nhà vua khi muốn những hiền tài của quốc gia ra mặt góp sức góp tài cho công cuộc xây dựng đất nước. Tác giả đi sâu vào phân tích tình hình khó khăn của đất nước và chính tình hình ấy phải cần đên sự giúp đỡ của hiền tài quốc gia. Cách trình bày thẳng thắn cho thấy được sự trung thực thật thà cũng như quang minh chính địa của vua Quang Trung. Chính qua đó ta thấy được sự chân thành  và tình cảm của nhà vua dành cho những hiền tài. Đồng thời đó còn là tâm trạng lo lắng của Quang Trung “ trời còn tăm tối”, “ đương ở buổi đầu của nền đại định”, “ công việc vừa mới mở ra” đó là những khó khăn bức thiết của triều địa nhà Nguyễn cũng như đất nước đang rơi vào tình thế khó khăn. Hình ảnh đất nước qua những câu văn của Ngô Thì Nhậm hiện lên thật rõ nét. Đó la f một đất nước đời đầu mới ở buổi đại định, tương lai còn chưa sáng rõ, thiếu nhân tài thì làm sao có thể sáng được vì thế mà vua khẩn thiết cầu hay mời hiền tài về phụng sự giúp đỡ vua. Thế rồi “ kỉ cương còn nhiều khiếm khuyết, việc biên ải chưa chưa yên, dân còn nhọc mệt, đức hóa của chúng chưa nhuần thấm” cùng với “một cái cột không thể đỡ nỗi một căn nhà lớn”. và thực tế thì “mưu lược một người không thể dựng nghiệp trị bình”. Như vậy có thể thấy vua quang trung vô cùng minh bạch, biết trọng người tài, biết xem thời thế không cậy thắng mà ngông cuồng. Đó là điều dĩ nhiên và hiển nhiên về đức và tài của ông. Điều đó cho thấy nhà vua thiết tha đầy nhiệt huyết kêu gọi hiền tài vì nước vì dân mà cùng vua xây dựng một đất nước với triều đại mới. Cuối cùng tác giả để một cau hỏi: “ Huống nay trên mảnh đất văn hiến rộng lớn như thế này…buổi ban đầu của trẫm hay sao?”. Như vậy nhà vua không chỉ kiên quyết, thẳng thắn mà cũng rất tha thiết để thuyết phục những hiền tài những vị tinh tú, sáng soi lấy bầu trời tăm tối của đất nước thời bấy giờ.

Xem thêm:  Văn mẫu: Em hãy miêu tả một điểm du lịch mà em đã đến thăm

Cuối cùng là chính sách cầu tài của vua Quang Trung, ở phần này tác giả chỉ ra những điểm nổi bật trong đường lối chính sách của vua. Đó là một chính sách công bằng cho tất cả mọi người từ quan viên cho đến dân chúng. Từ đó cho thấy Nguyễn Huệ hẳn là một người con rất đỗi yêu thương dân chúng, chăm lo cho cuộc sống của tất cả mọi người.

Đường lối chính sách thứ nhất của vua Quang Trung là các bậc quan viên lớn nhỏ, thứ dân trăm họ tất thảy đều có thể dâng sớ tâu bày sự việc, không sợ lời nói sơ suất mà bắt tội. qua chính sách ấy ta nhận thấy được vua Quang Trung có điểm khác so với những vị vua thời trước. Ông luôn yêu thương dân chúng, phải chăng chính xuất thân là một anh hùng áo vải cho nên vua thấu hiếu được nỗi khốn khổ và thấp cổ bé họng của nhân dân. Qua chính sách ấy thì mọi người có thể thấy sự công bằng cho tất cả những bậc dưới vua. Nếu như ngày xưa dân chúng sống trong cảnh thấp cổ bé họng, thường xuyên bị bắt nạt áp bức bóc lột của tham quan một cách thậm tệ thì đến thời vua Quang Trung những thứ dân ai ai cũng được tâu trình những bất bình mà mình muốn giải quyết.

Thêm nữa là cách tiến cử hết sức rộng mở: tự mình dâng sớ tâu bày sự việc, do các quan văn quan võ tiến cử, cho phép đang sớ tự tiến cử. Qua đây ta thấy đây là một đường lối mở rộng và đúng đắn. Nó có thể coi là một tính dân chủ của thời phong kiến. Vì không chỉ có các quan mà chính những người nhân dân cũng có quyền bày tỏ ý kiến cá nhân cũng như mọi điều ngang tai trái mắt mình nhìn thấy. dẫu có lỡ lời thì cũng không bị bắt tội. Đó chẳng phải là một chính sách đường lối công bằng và dan chủ hay sao, ai cũng có quyền lợi và nghĩa vụ góp sức và tài năng của mình để xây dựng đất nước. Một chính sách thấu tình đạt lý như thế thì làm sao không khiến mọi người nghe theo.

Như vậy có thể thấy dường lối của vua Quang Trung rất rộng mở, dễ hiểu, đúng đắn, cụ thể và dễ thực hiện. đồng thời qua chính sách ấy ta thấy được vua Quan Trung đúng là một đấng minh quân đầy bản lĩnh, tư tưởng tiến bộ, giàu lòng thương người và có khả năng thu phục lòng người. Cuối cùng tác giả cỗ vũ những người có đức có tài hãy cùng chung tay xây dựng đất nước cùng nhà vua. Lời khích lệ khép lại bài chiếu như một lời kêu gọi vui vẻ, lời mời mọc đầy hấp dẫn và giàu sức thuyết phục trong thời đại mới của tác giả: “ Nay trơi trong sáng đất thanh bình, chính là lúc người hiền gặp hội gió mây…”

Như vậy với kết cấu ba phần rõ ràng cùng với những nghệ thuật so sánh cùng những hình ảnh mang đầy tính chất tượng trưng cùng với những đức tài của nhà vua đã giúp cho bài chiếu giàu sức thuyết phục và đậm chất tư tưởng tiến bộ dân chủ. Có thể nói với chính sách và đường lối của mình vua Quang Trung xứng đáng là một bậc minh quân đời đời nhớ đến. chính lòng thiết tha, thẳng thắn, kiên quyết cầu người tài đã làm nên sức thuyết phục cho bài viết. Và tác phẩm chiếu cầu hiền cho đến ngày nay vẫn sáng mãi với thời gian, nó không chỉ mang giá trị lịch sử mà còn mang giá tri văn học.

Loading...

Ứng dụng VĂN MẪU TỔNG HỢP trên điện thoại với hơn 30k bài văn mẫu hay nhất, giải bài tập SGK, soạn văn đầy đủ chi tiết. Hãy tải App ngay để chúng tôi phục vụ bạn tốt hơn nhé!

Nếu thấy bài viết hay, hãy động viên và chia sẻ ban biên tập! Các bình luận không phù hợp sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.

Leave a Reply

avatar
  Nhận thông báo qua email  
Nhận thông báo cho
DMCA.com Protection Status