Phân tích tác phẩm Người Cầm Quyền Khôi Phục Uy Quyền – Ngữ văn 11

Phân tích tác phẩm Người Cầm Quyền Khôi Phục Uy Quyền – Ngữ văn 11

Hướng dẫn

NGƯỜI CẦM QUYỀN KHÔI PHỤC UY QUYỀN

(Trích Những người khốn khổ)

I- NHỮNG TRI THỨC BỔ TRỢ

1.Về tác giả và thời điểm tác phẩm ra đời

-Vích-to Huy-gô (1802 – 1885) là nhà thơ, nhà soạn kịch và nhà tiểu thuyết người Pháp thế kỉ XIX. Nổi tiếng là “thần đồng”, ông đã được mệnh danh là “chú bé trác việt”. Năm 13 tuổi, ông đoạt Giải thưởng Bông huệ vàng dành cho thơ của Viện Hàn lâm Pháp. Năm 1845, ông trở thành viện sĩ Viện Hàn lâm, đồng thời được bầu làm Nguyên lão của nước Pháp trong cùng năm đó. Ông là nhà văn có tư tưởng nhân đạo bao dung, có tình thương dành cho mọi tầng lớp người, đặc biệt là đối với những người nghèo khổ.

-Những người khốn khổ (1862) là cuốn tiểu thuyết lớn nhất và cũng là một cuốn tiểu thuyết được nhân loại biết đến nhiều nhất trong kho tàng sáng tác của Huy-gô. Tác phẩm được viết trong thời gian ông bị lưu đày ra khỏi nước Pháp. Đề tài của tác phẩm là vấn đề số phận của những ngưòi khốn khổ, những người không được luật pháp tư sản thừa nhận. Họ là những ngưòi sống dưới đáy cùng của xã hội, sống ngoài vòng pháp luật tư sản. Cuốn tiểu thuyết chiếm được cảm tình của độc giả trong và ngoài nước Pháp. Đây cũng là lần đầu tiên “những người khốn khổ ” trở thành nhân vật chính, có tiếng nói riêng trong văn học Pháp. Từ đây, Huy-gô trở thành nhà văn của những người khốn khổ, trở thành nhà nhân đạo chủ nghĩa.

Những người khốn khổ gồm năm phần, mỗi phần được chia thành nhiều quyển, mỗi quyển gồm nhiều chương, mục và đều có tiêu đề riêng. Đoạn trích Người cầm quyền khôi phục uy quyền nằm ở quyển tám (quyển cuối của phần thứ nhất).

Xem thêm:  Trình bày cảm nhận về tác phẩm Ông lão đánh cá và con cá vàng

2.Tri thức văn hoá

Huy-gô sống trọn trong thế kỉ XIX, một thế kỉ có nhiều biến động không chỉ đối với nước Pháp mà còn đối với cả châu Âu, dẫn tới sự biến động ở các châu lục khác nữa. Ông là chủ soái của trào lưu văn học lãng mạn, một trào lưu chịu ảnh hưởng nhiều của các học thuyết chủ nghĩa xã hội không tưởng. Tư tưởng chủ đạo của ông cũng là triết lí mà trọn đời ông yêu thích và theo đuổi, đó là “Sống là yêu thương” (Vivre c’est aimer). Tư tưởng này phù hợp với quan điểm của chủ nghĩa xã hội không tưởng chủ trương dùng tình thương để cảm hoá cái ác, để thanh toán mọi bất công và tội lỗi, để xây dựng một xã hội mói. Tuy nhiên, thế kỉ này cũng là thế kỉ mà giai cấp vô sản bước lên vũ đài chính trị, đấu tranh để giành quyền sống, quyền làm người, để chống lại mọi áp bức bất công mà trật tự tư sản đem lại, đỉnh cao của cuộc đấu tranh đó là Công xã Pa-ri. Thế kỉ này cũng là thế kỉ với nhiều phát minh khoa học mở đường cho sự phát triển của khoa học kĩ thuật. Ảnh hưởng của thời đại đã tác động sâu sắc tói cách nhìn nhân đạo và thái độ tôn vinh tiến bộ của Huy-gô, tạo cho ông có một tầm vóc mới trong thời đại đó.

3.Tri thức về thể loại

Những người khốn khổ là cuốn tiểu thuyết lãng mạn thuộc vào loại hay nhất của Huy-gô. Các thủ pháp nghệ thuật như phóng đại, so sánh, ẩn dụ, tương phản,… là những thủ pháp quen thuộc ở nhà văn này, giúp ông khẳng định một thế giới lí tưởng trong khi phủ nhận trật tự xã hội tư sản đương thời. Lời đề từ của ông cho tác phẩm này cũng chỉ rõ điều đó: “Khi những người đàn ông còn sa đoạ vì phải bán sức lao động, khi những người đàn bà còn truỵ lạc vì đói khát, khi những trẻ thơ còn cằn cỗi vì tăm tối thì cuốn sách này còn có ích”. Thế giới lí tưởng của ông được tạo ra qua hình ảnh người anh hùng lãng mạn Giăng Van-giăng, được tình thương cảm hoá và đã tự nguyện dùng tình thương ấy để cảm hoá thế gian, suốt đời hi sinh hạnh phúc bản thân để cưu mang, đùm bọc, che chở một đứa bé mồ côi, bất hạnh là Cô-dét. Hiển nhiên, việc cảm hoá cái ác bằng trái tim nhân hậu cho dù ở một mức độ nào đó là mang tính ảo tưởng, song nó vẫn cần thiết cho cuộc sống, bởi lẽ cuộc sống con người không thể thiếu vắng tình người, tình đồng loại. Tiểu thuyết Những người khốn khổ đặt ra và giải quyết vấn đề số phận của những người khốn khổ – những nạn nhân và đồng thời là sản phẩm của xã hội đồng tiền – một cách nhân đạo, bao dung.

Xem thêm:  Bình giảng bài thơ Đây mùa thu tới của Xuân Diệu

II- PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

Đây là một đoạn trích khá trọn vẹn và đầy đủ liên quan tới một tình huống đặc biệt gắn với nhân vật trung tâm của tác phẩm là Giăng Van-giăng. Tình huống đặc biệt đó là Giăng Van-giăng không còn là thị trưởng Ma-đơ-len nữa. Thanh tra Gia-ve, người vốn dưới quyền của thị trưởng, nay trở thành kẻ trực tiếp đến bắt Ma-đơ-len và sự việc đó diễn ra trước mắt Phăng-tin, ngưòi mẹ bất hạnh vốn đang được thị trưởng Ma-đơ-len che chở.

1.Đặc điểm về nội dung

a.Nhân vật

Ở đây các nhân vật được đặt trong các mối quan hệ:

-Loại nhân vật cặp đôi:

+ Gia-ve và Giăng Van-giăng: quan hệ đối kháng theo mô hình đao phủ – nạn nhân hoặc kẻ sát nhân – vị cứu tinh (thú dữ – anh hùng), qua đó tạo ra ấn tượng về cuộc đấu tranh giữa thiện và ác. Chú ý các nhận xét của Phăng-tin để phân biệt ai là thiện nhân và ai là ác nhân.

+ Gia-ve và Phăng-tin: quan hệ đối lập theo mô hình đao phủ – nạn nhân.

+ Phăng-tin và Giăng Van-giăng: quan hệ đối lập theo mô hình nạn nhân – vị cứu tinh (người bị nạn – người cứu nạn, nạn nhân – ân nhân), song cũng có quan hệ tương đồng nạn nhân – nạn nhân mà qua đó có thể thấy được tình càm tốt đệp của những con người cùng cảnh ngộ khi hoạn nạn, hiểm nguy.

Xem thêm:  Giải thích vì sao Nguyễn Khải lại gọi bà Hiền là hạt bụi vàng trong tác phẩm Một người Hà Nội

+ Người kể chuyện và Gia-ve, người kể chuyện và Giăng Van-giăng: các quan hệ này tạo ra cách kể, cách bình luận ngoại đề, qua đó cho thấy thái độ, cách đánh giá nhân vật và tình cảm nhân đạo của tác giả.

Lưu ý: Bên cạnh việc xác định loại nhân vật cặp đôi này và chỉ ra quan hệ của chúng, cần chú ý tới cách miêu tả của tác giả, đặc biệt là đối vói Gia-ve (kiểu con ngưòi thú, được nhìn như một con thú dữ) và Giăng Van-giăng (như một anh hùng, một vị cứu tinh, như một con ngưòi phi thường trong hoàn cảnh đặc biệt).

-Loại nhân vật cặp ba:

+ Gia-ve / Phăng-tin và Cô-dét: ở đây xuất hiện nhân vật gián tiếp là Cô-dét (nhân vật được nói tới), dẫn tới cái chết tuyệt vọng của Phăng-tin, qua đó tái hiện nỗi đau của người mẹ yêu thương con tha thiết đang mong muốn được thấy mặt con lần cuối.

Loading...

+ Giăng Van-giăng / Phăng-tin và Cô-dét: dẫn tới lời hứa đối với người đã khuất với vai trò mở rộng cốt truyện trong cuốn tiểu thuyết này, dẫn tới sự thanh than trong tâm hồn người ra đi, thể hiện qua kết thúc có hậu của đoạn trích. Từ đây niềm tin cái thiện sẽ thắng cái ác xuất hiện và được khảng định.

+ Bà xơ Xem-pti-xơ / Giăng Van-giăng và Phăng-tin: bà xơ đóng vai trò là chứng nhân, là người trông thấy tất cả mọi sự việc từ đầu đến cuối và là người sẽ kể lại câu chuyện đó cho những người khác chi tiết Giăng Van-giăng thì thầm với người đã chết và nụ cười xuất hiện trên môi của người đã khuất. Đây cũng là cách thể hiện niềm tin vào sức mạnh của cái thiện.

b.Tác giả

Tác giả đóng vai trò là người kể chuyện, đồng thời cũng là người đưa ra các bình luận ngoại đề, qua đó ta thấy rõ hơn thái độ, quan điểm của tác giả đối với câu chuyện được kể, đối với các nhân vật khác nhau xuất hiện trong đoạn trích.

2.Đặc điểm về nghệ thuật

a.Kết cấu đoạn trích

Có thể chia đoạn trích thành ba phần. Nổi bật trong đoạn trích là sự đối lập giữa hai nhân vật Gia-ve và Giăng Van-giăng với sự đảo ngược vị thế xã hội: Gia-ve là cảnh sát vốn dưới quyền của thị trưởng đến để bắt Giăng Van-giăng, còn thị trưởng – Giăng Van-giăng – lại phải cầu xin viên cảnh sát đó. Vị thế đối lập này sẽ là điểm tựa để phân tích.

Ba phần của đoạn trích gắn với ba cấp độ xuất hiện của Giăng Van-giăng. Đó là:

-Qua cách nhìn nhận và xưng hô của Phăng-tin, qua cách cảm nhận của bà xơXem-pli-xơ thì Giăng Van-giăng vẫn là thị trưởng Ma-đơ-len.

-Qua các tình huống Giăng Van-giăng bị Gia-ve túm lấy cổ áo, bị xưng hô mày – tao, và thái độ có vẻ nhún nhường thể hiện qua sự bình tĩnh, nói năng lễ phép của Ma-đơ-len vói Gia-ve, thì vai trò của thị trưởng không còn.

Nhân vật Gia-ve vốn là cảnh sát dưới quyền của thị trưởng Ma-đơ-len, luôn phục tùng thị trưởng cho dù đã có lúc hắn nghi ngờ ông thị trưởng này không phải ai khác mà chính là tên tù khổ sai Giăng Van-giăng giả mạo tên họ khác. Cho nên khi thị trưởng Ma-đơ-len trở lại với cái tên thật Giăng Van-giăng gắn với quãng đời khổ sai, đày ải của mình, thì Gia-ve với chức năng là thanh tra mật thám “khôi phục” lại uy quyền của hắn. Các động tác: đứng lì một chỗ mà nói, tiến vào giữa phòng và hét, nắm lấy cổ áo, phá lên cười, ngắt lời,… cách xưng hô mày – tao… cho thấy thái độ hống hách của Gia-ve khi trở lại với quyền uy mật thám. Trong phần cuối của đoạn trích, tác giả cho thấy “Sự thật là Gia-ve run sợ”, lo lắng, “mắt không rời Giăng Van-giăng”, hắn cũng không dám làm gì khi Giăng Van-giăng nói những lời cuối cùng với người đã chết. Thái độ của Gia-ve ở đây không còn hống hách nữa mà khép nép, lo sợ. Như vậy, khó có thể coi Gia-ve là “người cầm quyền” đã “khôi phục” lại “uy quyền”!

Qua hành động quyết liệt, dứt khoát: kết tội Gia-ve (Anh đã giết chết người đàn bà này rồi đó), tìm Vũ khí tự vệ (giật gãy trong chớp mắt một… cái thanh giường), ra lệnh (Giờ thì tội thuộc về anh), thì vai trò thị trưởng được lấy lại.

b.Nghệ thuật

Các biện pháp nghệ thuật như so sánh, đối lập,… được tác giả sử dụng kết hợp với cách tổ chức tình tiết, sự kiện theo hình thức phát triển đã khắc hoạ được người anh hùng lãng mạn trung tâm. Đặc biệt hình ảnh nụ cười trên môi và khuôn mặt rạng rỡ của Phăng-tin khi đã chết trở thành hình ảnh tiêu biểu của nghệ thuật lãng mạn ở tác giả này. Có thể thấy rõ điều đó qua:

-Không khí thiêng liêng: được thể hiện qua sự im lặng gần như tuyệt đối của không gian căn phòng nơi Phăng-tin chết, đồng thời sự thiêng liêng đó cũng được thể hiện qua các hành vi của Giăng Van-giăng (tư thế ngồi, nét mặt, dáng điệu), ngay cả Gia-ve cũng không dám làm gì khi đó và bà xơ Xem-pli-xơ cũng chỉ là chứng nhân bất động. Mọi hoạt động lúc đó gắn liền với Giăng Van-giăng, song cũng không ồn ào mà hết sức lặng lẽ, ngay cả khi nói với người đã chết thì âm thanh ở đây cũng chỉ đủ cho hai người nghe, cũng chỉ là thì thầm. Đây là một kiểu không gian đặc trưng khác thường mà nghệ thuật lãng mạn thường quan tâm khai thác và xây dựng.

Cách kể của tác giả: thể hiện tình cảm và thái độ của tác giả. Các câu hỏi liên tiếp được đưa ra đầy nghi vấn, song không hề có chút gì mỉa mai. Các câu hỏi đó đều được giải đáp bằng chi tiết bà xơ Xem-pli-xơ, “ngưòi độc nhất chứng kiến cảnh ấy”, là người đã trông thấy “một nụ cưòi không sao tả được hiện lên trên đôi môi nhợt nhạt”. Có thể coi đây là một thực tế vô lí vì ngưòi đã chết rồi thì còn cưòi làm sao được nửa. Song bà xơ Xem-pli-xơ, ngưòi mà tác giả đã nhấn mạnh nhiều lần là không bao giờ biết nói dối, bà chỉ nói sự thật, sự thật của mắt thấy tai nghe, cần chú ý tới câu: “Có những ảo tưởng cảm động, có thể là những sự thực cao cả” như là cách lí giải hợp lí ở đây. Song không chỉ có nụ cười trên môi mà còn có cả nụ cười “trong đôi mắt xa xăm, đầy ngỡ ngàng” của Phăng-tin nữa. Tất nhiên, đây là đôi mắt của ngườii đã chết, song trong không gian thiêng liêng ấy, qua cách nhìn của bà xơ, cái ảo tưởng này có thể giải thích được. Các hành vi, động tác sửa soạn lại tư thế cuối cùng cho Phăng-tin của Giăng Van-giăng như là động tác của người mẹ chăm con. Các động tác của Giăng Van-giăng chậm rãi, không gấp gáp mà tuần tự để đi tới động tác cuối cùng: “Rồi ông vuốt mắt cho chị”. Điều gì xảy ra khi ấy? Câu kể tiếp theo của tác giả cho thấy điều khác thường tiếp theo: “Lúc ấy gương mặt Phăng-tin như sáng rỡ lên một cách lạ thường”. Đây cũng là biểu hiện độc đáo của nghệ thuật lãng mạn, hướng tới cái khác thường, phi thường trong, hoàn cảnh khác thường, phi thường. Động tác Giăng Van-giăng quỳ xuống trước bàn tay buông thõng ngoài giường của Phăng-tin cũng rất đặc biệt. Ở đây, có sự khác biệt giữa hai cách nhìn một của Giăng Van-giăng, một của Gia-ve về Phăng-tin, từ đó thấy rõ tình cảm nhân đạo, tình ngưòi bao la của tác giả. Các động tác ở đây cũng nhẹ nhàng, tình cảm và tuần tự. Động tác cuối cùng của Giăng Van-giăng là đặt vào bàn tay ấy “một nụ hôn”. Cũng cần chú ý thêm quan niệm của tác giả về cái chết: “Chết tức là đi vào bầu ánh sáng vĩ đại”. Đây cũng là một cách nhìn lãng mạn, khác thường, không giống như quan niệm bình thường, thể hiện niềm tin bất diệt vào thế giới cái thiện. Cái thiện bao giờ cũng gắn vói thế giói ánh sáng, cái ác bao giờ cũng gắn vói thế giói bóng tối.

XEM THÊM PHÂN TÍCH TÁC PHẨM NGƯỜI TRONG BAO – NGỮ VĂN 11 TẠI ĐÂY

Theo Vanmauvietnam.com

Loading...

Ứng dụng VĂN MẪU TỔNG HỢP trên điện thoại với hơn 30k bài văn mẫu hay nhất, giải bài tập SGK, soạn văn đầy đủ chi tiết. Hãy tải App ngay để chúng tôi phục vụ bạn tốt hơn nhé!

Nếu thấy bài viết hay, hãy động viên và chia sẻ ban biên tập! Các bình luận không phù hợp sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.

Leave a Reply

avatar
  Nhận thông báo qua email  
Nhận thông báo cho
DMCA.com Protection Status