So sánh hình ảnh buổi chiều và cảm xúc của chủ thể trữ tình trong bài Mộ của Hồ Chí Minh và khổ cuối bài Tràng giang của Huy Cận. Từ đó nêu lên vẻ đẹp cô điển mà hiện đại của bài Mộ

Đề bài: So sánh hình ảnh buổi chiều và cảm xúc của chủ thể trữ tình trong bài Mộ của Hồ Chí Minh và khổ cuối bài Tràng giang của Huy Cận. Từ đó nêu lên vẻ đẹp cô điển mà hiện đại của bài Mộ.

Người ta đã tìm ra rất nhiều điểm tương đồng trong những câu ca dao của bà thơ “Mộ” và “Tràng giang”. Nhất là khi viết vè cảnh buổi chiều tà và tâm trạng của những thi nhân lại như đau đáu, phơi phới một nỗi niềm riêng.

Thật dễ nhận thấy trong hai thi phẩm đều dùng thi liệu cổ điển phương Đông cánh chim chiều, mây (chòm mây, núi mây).

Trong thơ xưa, những đám mây thường gợi cảm giác thoát tục, đưa con người đến thế giới hư vô, vô thường. Áng mây chiều trong thơ Bác là một chòm mây quen thuộc trên bầu trời, nó như đã làm tôn thêm không khí yên ả, thanh bình của buổi chiều tà cô quạnh đó.

Câu thơ như tả cảnh mà ngụ tình vậy. Dường như cái mỏi mệt của cánh chim chiều phải chăng cũng là cái mệt của người tù sau một ngày vất vả lê bước đường trường, áng mây cô đơn kia lững lờ trên tầng không rất hợp với trạng thái mệt mỏi rã rời của người tù sau một ngày chuyển lao ròng rã. Cánh chim chiều đã khao khát về tổ, chòm mây trôi đi về cuối chân trời phải chăng cũng giống như khát khao của người tù mong một chốn dừng chân. Trong hoàn cảnh mất tự do và xiềng xích thì Hồ Chí Minh vẫn vượt lên trên cảnh ngộ của mình để cảm nhận thiên nhiên, để nhận ra cái mệt mỏi trong gân cốt cánh chim chiều. Điều đó không chỉ bộc lộ tình yêu thiên nhiên mà còn cho thấy sự tự do tinh thần của Bác, đã cho thấy một nghị lực phi thường vượt lên trên hoàn cảnh khó khăn của Người. Đó cũng chính là chất thép kiên cường của người chiến sĩ, biết vượt lên trên hoàn cảnh bằng khí phách ung dung, bản lĩnh của mình.

Hai dòng thơ đầu trong bài “Mộ” là thế giới thiên nhiên lúc chiều tàu thì hai dòng thơ sau, cái nhìn của Bác như đã hướng về cuộc sống con người nơi xóm núi bóng tối đã phủ kín trời. Cảnh vật lúc này đều như đượm buồn, vắng lặng, cô đơn. Người bộc lộ tâm trạng của mình qua hình ảnh, hay nói cách khác mượn cảnh để bộc lộ tâm trạng.

Thật dễ nhận thấy “Tràng giang” của Huy cận như có thêm hình ảnh “con nước” buồn; không có biểu tượng của sự sông (“không khói hoàng hôn”). Ngay từ nhan đề của bài thơ thì nhà thơ đã khéo gợi lên vẻ đẹp cổ điển lại hiện đại cho bài thơ. “Tràng giang” chính là một cách nói chệch đầy sáng tạo của tác giả Huy Cận. Thật dễ nhận tháy hai âm “ang” đi liền nhau đã gợi lên trong người đọc cảm giác về con sông dài, không chỉ dài vô cùng mà còn rộng mênh mông, bát ngát. Hai chữ “tràng giang” vừa mang sắc thái cổ điển trang nhã, lại vừa gợi liên tưởng về dòng Trường giang trong thơ Đường thi, một dòng sông của muôn thuở vĩnh hằng, dòng sông của tâm tưởng.

Xem thêm:  Tại sao nói rằng trong truyện ngắn Chiếc lá cuối cùng của O.Hen-ri, chiếc lá cụ Bơ-men vẽ trên tường là một kiệt tác
Loading...

Tứ thơ “Tràng giang” mang nét cổ điển như thơ xưa vậy, điều này cũng có thể nhận thấy tring bài “Mộ” của Hồ Chí Minh. Nhà thơ thường ẩn đằng sau cái mênh mông sóng nước, cái vẻ thiên nhiên rộng lớn vô định kia. Không như các nhà thơ mới thường thể hiện cái tôi của mình một cách mãnh liệt. Nhưng nếu các thi nhân xưa tìm đến thiên nhiên để mong hoà nhập, giao cảm, Huy cận lại tìm về thiên nhiên để thể hiện nổi ưu tư, buồn bã về thân phận, về kiếp người cô đơn, nhỏ bé trước vũ trụ bao la rộng lớn. Đó cũng là vẻ đẹp đầy sức quyến rũ của tác phẩm, ẩn chứa một tinh thần hiện đại.

Còn với bài “Mộ” thì sau cảnh chiều muộn buồn vắng của thiên nhiên nơi núi rừng hẻo lánh lại là cảnh sinh hoạt ấm cúng, đầy sức sống của con người bên xóm núi, và cùng với ngọn lửa hồng rực sáng trong lò than đã làm cho đêm không hề đen.

Có thể nói cảm xúc của của chủ thể trữ tình trong hai bài thơ đều như buồn lắng,như lo lắng và cô đơn trước thiên nhiên trong thời khắc của ngày tàn (có sự hòa hợp giữa thiên nhiên và con người, cảnh và tình).

Có nhiều điểm tương đồng như vậy, thì liệu hai bài thơ này trở nên mờ nhạt và đơn sắc không. Cần phải nhìn rộng vấn đề, mỗi tác phẩm thơ car a đời để mà có thể sống với sự khăc nghiệt của thời gian chắc chắn bản thân bài thơ đó phải mang nhưng dư vị riêng của bản thân tác giả. Trong hai bài thơ, ở một bài (Mộ) buồn vì nhớ nước, nhớ đồng bào, đồng chí trong cảnh tù đày xa xứ mộtngười buồn vì nhớ nhà trong cái “tòi” bé nhỏ của thi nhân lãng mạn khi đứng trước Tràng giang mênh mang chưa tìm được hướng đi cho đời mình. Môt thi phẩm nói về tâm trạng chỉ cô buồn (Tràng giang), và dường như nỗi buồn đó ngày càng sâu thăm thẳm và nếu nó được đo bằng độ cao thì sẽ là cao vời vợi. Và khi không tìm thấy biểu tượng của sự sống; một người không chỉ có buồn mà còn có niềm vui khi chứng kiến và hòa vào với niềm vui cuộc sống của con người.

Có thể nói sự giống nhau là do tư chất nghệ sĩ của hai nhà thơ, còn sự khác nhau do một người là thi sĩ lãng mạn, một người là thi sĩcách mạng.

Bài ‘Mộ” còn hay còn đẹp ở vẻ đẹp cổ điển cuãng như hiện đại của thi phẩm. Dễ nhận thấy yếu tố cổ điển trong bài là Bác đã dùng thi liệu phương Đông (cánh chim bay về rừng, chòm mây trôi trên bầu trời), cùng bút pháp chấm phá bằng hai nét vẽ, vẽ mà để dựng, lên cảnh chiều muộn như trong một bức tranh thủy mạc ( vừa có hồn và thâm đượm tình người). Hình ảnh ngọn lửa rực hồng tròng đêm tối cũng là hình ảnh thường gặp trong theo cổ điển xưa. Và có lẽ yếu tố hiện đại trong thi phẩm “Mộ” ở đây chính là cảnh sinh hoạt ấm cúng, đầy sức sống của người lao động bên xóm núi cùng với lòng thương người và yêu đời vô hạn của nhà thớ. Tứ thợ, hình tượng thơ vận động theo hướng tích cực, đi lên: từ tôi đến sáng, từ tận lụi đến sự sông, từ buồn đên vui, từ lạnh lẽo cô đơn đến ấm nóng.

Với sự kết hợp đặc sắc của hai yếu ố này thì bức tranh chiều muộn được vẽ lên ở nơi núi rừng hẻo lánh cũng như mang đậm chất Đường thi càng thâm đượm nỗi buồn cửa người tù xa xứ đang nhớ nước, nhớ đồng bào, đồng chí. Và dường như hình ảnh của cô gái xay ngô thật hài hòa với cảnh vật, với ngọn lửa rực hồng trong lò than bởi chính ngọn lửa ấy đã làm bừng sáng rực rỡ khuôn mặt của người lao động. Ngọn lửa hồng, ngọn lửa của thi liệu phương Đông đã thành ngọn lửa của tình yêu con người, yêu cuộc sống trong thơ hiện đại.

Cảnh chiều muộn nơi núi rừng hoang sơ hẻo lánh và cảnh sinh hoạt bên xóm núi cũng như đã hòa quyện, hài hòa trong sự phát triển biện chứng của hình tượng thơ để tạo nên một chỉnh thể nghệ thuật thống nhất của tác phẩm. Đó còn là vẻ đẹp của bài tứ tuyệt, của phong cách thơ Hồ Chí Minh.

Có thể nói rằng sự thành công của tác phẩm “Mộ” ngoài việc sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh đẹp lại cho tác phẩm. Khẳng định một lối văn phong đậm chất Hồ Chí Minh đó chính là sự vận động tự nhiên của hình tượng thơ Hồ Chí Minh ở việc đi từ buồn đến vui, từ bóng tối ra ánh sáng, từ tối tăm đến niềm tin, tương lai. Qua bài thơ “Chiều tối” cũng như sự so sánh với bài thơ ‘Tràng giang”, chúng ta cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn của một kiếp người hay tâm trạng trong thơ Huy Cận, và người chiến sĩ cách mạng đồng thời là nhà thơ Hồ Chí minh thể hiện trong “Mộ”.

    Loading...

    Ứng dụng VĂN MẪU TỔNG HỢP trên điện thoại với hơn 30k bài văn mẫu hay nhất, giải bài tập SGK, soạn văn đầy đủ chi tiết. Hãy tải App ngay để chúng tôi phục vụ bạn tốt hơn nhé!

    Nếu thấy bài viết hay, hãy động viên và chia sẻ ban biên tập! Các bình luận không phù hợp sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.

    Leave a Reply

    avatar
      Nhận thông báo qua email  
    Nhận thông báo cho
    DMCA.com Protection Status