Soạn bài Thực hành các phép tu từ: phép điệp và phép đối lớp 10

Phép điệp là biện pháp lặp lại một yếu tố diễn đạt (ngữ âm, từ, câu) để nhấn mạnh ý nghĩa và cảm xúc, nâng cao khả năng biểu cảm, gợi hình cho lời văn. Còn Phép đối (còn gọi là đối ngữ) là cách sử dụng những từ ngữ, hình ảnh, các thành phần câu, vế câu song song, cân đối trong lời nói nhằm tạo hiệu quả diễn đạt: nhấn mạnh, gợi liên tưởng, gợi hình ảnh sinh động, tạo nhịp điệu cho lời nói. Phép điệp và phép đối là hai biện pháp tu từ quan trọng góp phần tăng hiệu quả biểu đạt của văn bản văn học. Qua bài học “Thực hành các phép tu từ: phép điệp và phép đối” chúng ta sẽ làm các bài tập thực hành nhận diện và phân tích hiệu quả biểu đạt của chúng để từ đó  nâng cao kiến thức về phép điệp và phép đối. Dưới đây mình sẽ hướng dẫn các bạn soạn bài “Thực hành các phép tu từ: phép điệp và phép đối”

SOẠN BÀI  THỰC HÀNH CÁC PHÉP TU TỪ: PHÉP ĐIỆP VÀ PHÉP ĐỐI LỚP 10

I. Luyện tập về phép điệp (Điệp ngữ)

1. Câu 1 (trang 124 sgk Ngữ Văn 10 Tập 2):

a. Lặp “nụ tầm xuân”:

  •   Tạo liên tưởng đồng nhất với người con gái đẹp, chưa chồng.
  •  Nhấn mạnh nỗi niềm tiếc nuối, xót xa của chàng trai.
  •     Hình ảnh hoa tầm xuân, hoa cây này không nhấn mạnh được sự niềm tiếc nuối của chàng trai cũng như vẻ đẹp “nở ra cánh biếc” khi lặp nụ tầm xuân.
Xem thêm:  Trình bày quan niệm về nội dung của câu ngạn ngữ phương Tây: Không có nghề nào hèn cả, chỉ có những kẻ hèn mà thôi

     Lặp lại cụm từ chim vào lồng, cá mắc câu :

  •          Gợi tình cảnh và nhấn mạnh sự mất tự do, bế tắc của cô gái khi đã có chồng.
  •          Nhấn mạnh nỗi niềm đau đớn, xót xa của người trong cuộc.
  •    Cách lặp giống với nụ tầm xuân ở câu trên, cùng là lối điệp vòng tròn.

b. Các câu đó chỉ có hiện tượng lặp từ, không phải phép điệp. Nó tạo tính đối xứng và nhịp điệu cho câu văn.

c. Định nghĩa phép điệp:

  •  Là biệp pháp tu từ lặp lại một yếu tố diễn đạt (vần, nhịp, từ, cụm từ, câu) nhằm nhấn mạnh, biểu đạt cảm xúc và ý nghĩa, có khả năng gợi hình tượng như trên.
  •   Phân loại: điệp nối tiếp, điệp cách quãng, điệp vòng tròn (điệp ngữ chuyển tiếp).
  1. Câu 2 (trang 125 sgk Ngữ Văn 10 Tập 2):
  • “Tre xung phong vào xe tăng đại bác. Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín. Tre hi sinh để bảo vệ con người…”

                                                (Cây tre Việt Nam – Thép Mới)

  • “Hoa giải nguyệt, nguyệt in một tấm, 

Nguyệt lồng hoa, hoa thắm từng bông. 
Nguyệt hoa, hoa nguyệt trùng trùng, 
Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đâu. “
(Chinh phụ ngâm – Đặng trần Côn) 

  • “Con kiến mà leo cành đa 
Xem thêm:  Trong một lần nói chuyên với học sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó. Suy nghĩ của anh (chị) về câu nói đó

Leo phải cành cụt leo ra leo vào 
Con kiến mà leo cành đào 
Leo phải cành cụt leo vào leo ra “

II. Luyện tập Thực hành các phép tu từ: phép điệp và phép đối

  1. Câu 1 (trang 125 sgk Ngữ Văn 10 Tập 2):

a.  Ở ngữ liệu (1) và (2) cách xếp từ ngữ ở thế cân xứng nhau. Sự phân chia thành hai vế cân dối được gắn kết lại nhờ phép đối. Vị trí của các danh từ, tính từ, động từ tạo thế cân đối hoàn chỉnh, nhịp nhàng.

Loading...

 Trong ngữ liệu (3) cách đối là trong phạm vi một câu thơ (câu bát). Trong ngữ liệu (4) vế đối nằm ở hai câu liền kề nhau.

b. Ví dụ

  • Phép đối trong Hịch tướng sĩ:

 “Uốn lưỡi cú diều mà chửi mắng triều đình.”

“Đem thân dế chó mà bắt nạt tể phụ.”

  • Phép đối trong Đại cáo binh Ngô:

 “ Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền độc lập.

  Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương.”

  •  Phép đối trong Truyện Kiều: 

“Người quốc sắc, kẻ thiên tài

Tình trong như đã, mặt ngoài còn e.” 

  • Thơ Đường luật: 

“Lom khom dưới núi tiều vài chú,

Lác đác bên sông chợ mấy nhà.”

(Qua Đèo Ngang– Bà Huyện Thanh Quan)

  •  Một số câu đối: 

Giàu có thiếu gì tiền, đi một vài quan không phải lẽ;

Sang không thì ra bạc, gửi năm ba chữ gọi là tình.

{Mừng đám cưới – Nguyễn Khuyến)

 “Con có cha như nhà có nóc

 Con không cha như nòng nọc đứt đuôi”

c. Định nghĩa về phép đối:

 Phép đôi là cách sắp xếp từ ngữ, cụm từ và câu ở vị trí cân xứng nhau để tạo hiệu quả giống nhau hoặc trái ngược nhau nhằm mục đích gợi ra một vẻ đẹp hoàn chỉnh và hài hòa trong diễn đạt nhằm diễn đạt một ý nghĩa nào đó.

  1. Câu 2 (trang 125 sgk Ngữ Văn 10 Tập 2):

a.  Phép đối trong tục ngữ tạo sự hài hòa, cân đối và giúp cho việc diễn đạt ý được khái quát và cô đọng, dễ nhớ, dễ thuộc.

b. Không thể dễ dàng thay thế các từ vì các từ trong một câu tục ngữ thường thuộc một kiểu đối nào đó. VD: từ “bán” và từ “mua” nằm trong phép đối từ loại và đối ý.

c. Thông thường, phép đối phải dựa vào những biện pháp ngôn ngữ về vần, từ và câu đi kèm, đặc biệt là những biện pháp ngôn ngữ về từ và câu.

d. Tục ngữ ngắn mà khái quát được hiện tượng rộng, người không học mà cũng nhớ, không có ý ghi lại mà vẫn được lưu truyền; điều đó có được là nhờ tục ngữ sử dụng từ ngữ hình ảnh có sức khái quát và giàu tính biểu tượng. Tục ngữ thường có vần, có nhịp, đặc biệt là sử dụng phép đối nên dễ đọc, dễ nhớ.

3. Câu 3 (trang 126 sgk Ngữ Văn 10 Tập 2):

 Tìm mỗi kiểu đối một ví dụ:

  •     Kiểu đối thanh (trắc đối bằng): Bà chúa đứt tay (bằng) bằng ăn mày sổ ruột (trắc)..
  •    Kiểu đối chọi về nghĩa: Gần mực thì đen / gần đèn thì sáng.
  •    Kiểu đối từ loại (tính từ đối tính từ, danh từ đối danh từ, động từ đối động từ): 

“Say rượu say thơ, say mà tỉnh,

Say tình say nghĩa, tỉnh mà say.”

  •      Kiểu đối giữa các câu:

    ”   Khi sao phong gấm rủ là

   Giờ sao tan tác như hoa giữa đường.”

 

Nguồn Internet

Loading...

Ứng dụng VĂN MẪU TỔNG HỢP trên điện thoại với hơn 30k bài văn mẫu hay nhất, giải bài tập SGK, soạn văn đầy đủ chi tiết. Hãy tải App ngay để chúng tôi phục vụ bạn tốt hơn nhé!

Nếu thấy bài viết hay, hãy động viên và chia sẻ ban biên tập! Các bình luận không phù hợp sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.

Leave a Reply

avatar
  Nhận thông báo qua email  
Nhận thông báo cho
DMCA.com Protection Status