Sự phát triển của từ vựng

Sự phát triển của từ vựng

Hướng dẫn

I – NỘI DUNG CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG

1. Ngoài phương thức phát triển từ vựng bằng cách tạo thêm nghĩa mới cho những từ ngữ đã có, còn có phương thức tạo thêm từ ngữ mới.

2. Việc tạo ra những từ ngữ hoàn toàn mới là ít hơn nhiều so với việc tạo ra từ ngữ mới từ những yếu tố có sẵn theo hai phương thức cơ bản là ghép và láy. Trong hai phương thức này thì phương thức ghép có sức sản sinh cao hơn.

3. Mượn từ ngữ nước ngoài cũng là một cách phát triển từ vựng và đó là một hiện tượng phổ biến của tất cả các ngôn ngữ trên thế giới. Tuy nhiên khi mượn cần cân nhắc, tránh lạm dụng làm ảnh hưởng không tốt đến tiếng mẹ đẻ.

II – HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP

1. Tạo từ ngữ mới

Câu hỏi 1

Với các từ điện thoại, kinh tế, di động, sở hữu, tri thức, đặc khu, trí tuệ, thời gian gần đây đã tạo ra các từ ngữ mới: điện thoại di động, kinh tế tri thức, sở hữu trí tuệ, đặc khu kinh tế.

Câu hỏi 2

Theo mô hình x + tặc, ta có: hải tặc, không tặc, lâm tặc, tin tặc.

2. Mượn từ ngữ của tiếng nước ngoài

Câu hỏi 1

Các từ Hán Việt trong đoạn thơ (in đậm), không kể tên riêng:

a)

Thanh minh trong tiết tháng ba,

Lễ tảo mộ hội là đạp thanh.

Gần xa nô nức yến anh,

Chị em sắm sửa bộ hành chơi xuân.

Dập dìu tài tử giai nhân,

Ngựa xe như nước áo quần như nêm.

(Nguyễn Du, Truyện Kiều)

b)Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con rẫy bỏ, điều dâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh, xin ngài chứng giám.Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương xuống đất xin làm cỏ Ngu mĩ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ, và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ.

(Nguyễn Dữ, Chuyện người con gái Nam Xương)

Câu hỏi 2

a) Tiếng Việt gọi là bệnh “ết" (AIDS – gốc Anh, viết tắt của Acquired Immued Deficiency Syndrome: mắc phải hội chứng suy giảm miễn dịch).

b) Tiếng Việt gọi là ma-két-tinh (gốc Anh, nguyên dạng là marketing).

3. Luyện tập

Bài tập 1

Một số mô hình có khả năng tạo ra từ ngữ mới theo kiểu x + tặc:

– x + học: toán học, vật lí học, sử học,…

– x + hóa: ô xi hóa, hợp tác hóa, kiên cố hoá,…

– x + nghiệp: nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp,…

Bài tập 2

Những từ ngữ mới xuất hiện gần đây:

– Cầu truyền hình: hình thức huyền hình tại chỗ cuộc giao lưu, đối thoại qua hệ thống ca-mê-ra giữa các địa điểm cách xa nhau.

– Cơm bụi : cơm giá rẻ, bán trong các quán sơ sài, tạm bợ, chủ yếu phục vụ sinh viên, thợ thuyền.

– Đa dạng sinh học: đa dạng về nguồn gien, về giống loài sinh vật trong tự nhiên.

– Công viên nước: công viên chủ yếu có các trò giải trí dưới nước như trượt nước, bơi thuyền, tắm biển nhân tạo,…

– Thương hiệu: nhãn hiệu thương mại (của các cơ sở sản xuất, kinh doanh).

– Quá đát:(hàng hoá) quá hạn sử dụng.

– (Nguyên tắc) đồng thuận : tất cả các bên tham gia một tổ chức cùng nhất trí một vấn đề thì vấn đề đó mới có giá trị pháp lí.

Bài tập 3

Mãng xà, biên phòng, tham ô, tô thuế, phê bình, phê phán, ca sĩ, nô lệ là các từ mượn tiếng Hán.

Xà phòng, ô tô, ra-đi-ô, ô xi, cà phê, ca nô là các từ mượn các ngôn ngữ Ấn – Âu.

Bài tập 4

Có thể tóm tắt các cách phát triển từ vựng bằng sơ đồ sau:

Từ ngữ của một ngôn ngữ không thể không thay đổi. Nó là bộ phận năng động nhất (so với ngữ âm, ngữ pháp). Bởi vì có những sự vật hiện tượng mất đi thì từ ngữ chỉ nó cũng không còn hoặc ít dùng. Ngược lại, nhiều sự vật hiện tượng, khái niệm mới xuất hiện, do đó cần có từ ngữ mới để gọi tên: máy vi tính, điện thoại di động, (nguyên tắc) đồng thuận (trong quan hệ giữa các thành viên của một hiệp hội). Tuy nhiên, sự thay đổi này diễn ra từ từ, không đột biến.

Mai Thu

Đánh giá bài viết
DMCA.com Protection Status