Văn lớp 8: Phân tích bài thơ “Nước Đại Việt ta” hay ngắn gọn

Cáo là một thể văn nghị luận có từ thời cổ Trung Quốc, thường được vua chúa hoặc thủ lĩnh dùng để trình bày một chủ trương, một sự nghiệp, tuyên ngôn cho mọi người cùng biết, mang ý nghĩa như một sự kiện trọng đãi, có tình chất quốc gia. Chính thế, tác phẩm “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi viết thay Lê Lợi có ý nghĩa như một bản tuyên ngôn độc lập tuyên bố chủ quyền dân tộc và quyền tự do của con dân Đại Việt. “Bình Ngô đại cáo” mang ý nghĩa như một bản tuyên ngôn độc lập, thể hiện được luận đề của chính nghĩa: tư tưởng nhân nghĩa theo quan niệm nho giáo, nó là mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người dựa trên cơ sở tình thương và đạo lí mà ‘’ cốt ở yêu dân’’. “Nước Đại Việt ta” là một đoạn trích thuộc phần đầu bài cáo, nêu lên tư tưởng nhân nghĩa. Trong chương trình Ngữ Văn 8 có đề văn phân tích “Nước Đại Việt ta” đòi hỏi người viết phải nêu bật được tư tưởng nhân nghĩa Nguyễn Trãi hướng tới. Dưới đây là bài văn mẫu phân tích “Nước Đại Việt ta” để mọi người có hướng triển khai rõ hơn khi làm đề văn này. 

BÀI LÀM VĂN SỐ 1 PHÂN TÍCH “NƯỚC ĐẠI VIỆT TA” LỚP 8 

Nguyễn Trãi là một vị anh hùng dân tộc, một nhà văn hóa kiệt xuất, nhân vật toàn tài số một của lịch sử Việt Nam thời phong kiến. Nguyễn Trãi đã từng thay Lê Lợi viết “Bình Ngô đại cáo” – một áng thiên cổ hùng văn tuyên cáo độc lập dân tộc. Đoạn trích “Nước Đại Việt ta” thuộc phần đầu của bài cáo, là đoạn trích có vị trí quan trọng – làm tiền đề cho bài cáo.

Năm 1428, cuộc kháng chiến chống quân Minh thắng lợi, Nguyễn Trãi thay Lê Lợi viết bài cáo công bố trước toàn dân Bình Ngô đã thắng lợi. Đoạn trích “Nước Đại Việt ta” có ý nghĩa như một lời tuyên bố hùng hồn về chủ quyền độc lập nêu lên nguyên lý nhân nghĩa và chân lí về chủ quyền dân tộc thiêng liêng của dân tộc Đại Việt.

Xem thêm:  Soạn bài Người dời núi mở đường

Ở hai câu đầu tác giả đưa ra quan niệm “nhân nghĩa” theo Nho giáo: 

  • “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân 
  • Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”

Theo Nho giáo, “nhân” là lòng thương người, “nghĩa” là hành động hợp lẽ phải, biết làm điều thiện. Nhưng cốt lõi tư tưởng “nhân nghĩa” của Nguyễn Trãi là “yên dân”, hành động nhân nghĩa là “trừ bạo”. “Yên dân” là làm cho dân được sống yên ổn, thái bình. “Trừ bạo là diệt thế lực bạo tàn. Trong hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ, “dân” là con dân nước Đại Việt, “bạo” là quân Minh bạo tàn, “quân điếu phạt” nghĩa là quân Lam Sơn. Như vậy, với Nguyễn Trãi “nhân nghĩa” là yêu nước, chống quân xâm lược Nhưng “nhân nghĩa” không chỉ bó hẹp trong mối quan hệ giữa người với người mà còn là quan hệ giữa dân tộc và dân tộc. Đây chính là sự phát triển trong tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi so với nho giáo. Cách mở đề rất cô đong, ngắn gọn như một câu tục ngữ, một mệnh đề triết học đã nêu bật được ý nghĩa giặc Minh xâm lược nước ta là trái nhân nghĩa, ta đứng lên chống giặc Minh là thuận nhân nghĩa, ta thắng giặc Minh là tất yếu.

Sau khi nêu nguyên lí nhân nghĩa, Nguyễn Trãi đã khẳng định về sự tồn tại độc lập chủ quyền của dân tộc: 

  • “Như nước Đại Việt ta từ trước,
  • Vốn xưng nền văn hiến đã lâu,
  • Núi sông bờ cõi đã chia,
  • Phong tục Bắc Nam cũng khác.
  • Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời xây nền độc lập,
  • Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương,
  • Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,
  • Song hào kiệt đời nào cũng có.”

Nguyễn Trãi đưa ra những yếu tố căn bản để xác định chủ quyền: quốc hiệu, nền văn hiến, lãnh thổ, phong tục tập quán, lịch sử, nhân tài hào kiệt,… Tác giả đưa yếu tố “văn hiến” lên đầu bởi phong kiến phương Bắc luôn tìm cách phủ nhận nền văn hiến của ta, từ đó phủ nhận tư cách độc lập của ta. Nhưng dân tộc ta vẫn giữ vững bản sắc riêng cho dù nền phong kiến có thay đổi, lịch sử có lúc thăng lúc trầm nhưng văn hiến, phong tục tập quán, nhân tài hào kiệt không bao giờ thay đổi. 

Xem thêm:  Thuyết minh về hoa sen trong đầm nước

Bên cạnh đó, Nguyễn Trãi còn thể hiện niềm tự hào dân tộc qua từ “đế”. Phong kiến phương Bắc chỉ nước ta là một nước chư hầu, chỉ phong vương cho ta nhưng cách xưng “đế” khẳng định rằng Đại Việt có chủ quyền, ngang hàng với phương Bắc. Để tăng sức thuyết phục, tác giả đã sử dụng những từ ngữ mang tính hiển nhiên, vốn có: “đã lâu, đã chia, cũng khác, cũng có”. Như vậy, nước Đại Việt đã có lịch sử lâu đời và có chiều sâu văn hiến.

Để làm sáng tỏ sức mạnh nhân nghĩa và chân lý về chủ quyền độc lập dân tộc, Nguyễn Trãi đưa ra những dẫn chứng trong lịch sử: 

  • “Vậy nên:
  • Lưu Cung tham công nên thất bại,
  • Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong,
  • Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô,
  • Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã”

Hai chữ “vậy nên” đã diễn đạt một quan hệ nhân quả: kẻ nào xâm phạm đến chính nghĩa sẽ chuốc lấy thất bại. Các dẫn chứng được nêu trong trình tự thời gian, từ Lưu Cung – vua Nam Hán đến Triệu Tiết – tướng nhà Tống đến Toa Đô, Ô Mã Nhi – tướng nhà Nguyên. Cách nêu dẫn chứng linh hoạt, có khi nhấn mạnh thất bại quân giặc, có khi ca ngợi chiến thắng của ta. Lời khẳng định: “Việc xưa xem xét / Chứng cứ còn ghi” một lần nữa nhấn mạnh sức mạnh chính nghĩa là chân lý về độc lập dân tộc không gì thay đổi được. 

Xem thêm:  Người ấy (bạn, thầy, người thân…) sống mãi trong lòng tôi

Bài cáo với lập luận chặt chẽ, kết hợp hài hòa giữa lý trí và tình cảm, lời lẽ và thực tiễn, giọng văn hùng hồn. Đoạn trích mở đầu bài “Bình Ngô đại cáo” sáng ngời chính nghĩa được viết bởi trí tuệ sắc sảo của một trái tim yêu nước thương dân. Đoạn văn đã khẳng định tư tưởng nhân nghĩa, lòng tự hào về lịch sử dân tộc của người anh hùng Nguyễn Trãi.

Đoạn văn mở đầu bài “Bình Ngô đại cáo” ngắn gọn, cô đọng, xúc tích, là điểm tựa, là nền móng lí luận cho toàn bài. Đoạn văn vừa là lời nghiêm khắc răn dạy vừa mang chiều sâu thấm thía tư tưởng nhân nghĩa cốt lõi của đạo làm người.

Nguồn Vietvanhoctro.com

Leave a Reply

avatar
  Nhận thông báo qua email  
Nhận thông báo cho
DMCA.com Protection Status