[Văn mẫu học sinh giỏi] Phân tích bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi

[Văn mẫu học sinh giỏi] Phân tích bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi

Dàn ý chi tiết

1. Mở bài

Mùa xuân năm 1428, đất nước ta sạch bóng quân thù, Nguyễn Trãi thay lời Lê Lợi viết “ Bình Ngô đại cáo” tổng kết mười năm cuộc kháng chiến chống quân Minh của nghĩa quân Lam Sơn và tuyên bố mở ra kỉ nguyên độc lập tự do của dân tộc. Có thể nhận nói “ Bình Ngô đại cáo” là bản hùng ca về lòng yêu nước gây xúc động mạnh mẽ trong lòng người đọc.

2. Thân bài

Khái quát tác giả, tác phẩm

– tác giả: giàu tình yêu nước, thương dân, theo Lê Lợi tham gia khởi nghĩa và góp phần làm nên chiến thắng hào hùng cho dân tộc.

– Chiến thắng của nghĩa quân Lam Sơn và tình yêu nước cháy bỏng của ông đã được kết tinh trong áng văn bất hủ “ Bình Ngô đại cáo”.

Phân tích:

– Tư tưởng nhân nghĩa:

+ Nhân nghĩa là quan niệm Nho gia đề cao mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người và xã hội

+ trong thời phong kiến, nhân nghĩa là yêu nước, là trung quân ái quốc.

+ Nguyễn Trãi: nhân nghĩa là thương dân, yêu dân, lấy dân làm gốc, “ cốt ở yên dân” và đâú tranh đánh đuổi kẻ thù của dân, diệt trừ những kẻ tham tàn bạo ngược “ quân điếu phạt trước lo trừ bạo”.

– Khẳng định sự tồn tại của nước Đại Việt ta như một chân lý lịch sử:

+ khẳng định về lãnh thổ và ý thức về chủ quyền qua: văn hiến, lịch sử, phong tục tập quán.

+ Khẳng định đanh thép về đất nước hoàn toàn độc lập, có chủ quyền, ngang hàng với các triều đại phong kiến phương Bắc.

+ Khẳng định nhân tài, là con người đã góp phần khẳng định nền độc lập chủ quyền ấy.

+ Sự thất bại, tiêu vong của kẻ thù.

Cảnh đất nước bị dày xéo, nhân dân bị áp bức:

+ nướng dân ta trên ngọn lửa hung tàn.

+ đặt ra những thứ thuế khoá nặng nề bắt dân ta phục dịch.

+ ép dân ta lên rừng xuống biển đãi vàng mò ngọc.

+ vơ vét sản vật, nhiễu dân.

=> Gia đình tan tác, con cái nheo nhóc, muôn loài bị phá hủy…

=> Tội ác dã man của kẻ thù

=> Tấm lòng xót xa, yêu thương của Nguyễn Trãi.

Trừ bạo để yên dân:

+ Tư tưởng nhân nghĩa đã thể hiện tinh thần nhân bản và giá trị nhân văn sâu sắc là chim chỉ nam cho đường lối chính trị và quân sự của khởi nghĩa Lam Sơn.

+ Thắng lợi.

Sau khi chiến thắng kẻ thù:

+ mưu phạt công tâm, mở ra cho đường hiếu sinh, tha bổng cho về nước.

=> Thu phục lòng người, xoa dịu hận thù để không gây ra hậu quả về sau chính là đại nghĩa với nhân dân “ Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.”

Tuyên bố đồng thời khẳng định một lần nữa quyền độc lập tự chủ lâu dài của đất nước. Lịch sử sang trang, đất nước bước vào kỉ nguyên mới, kỉ nguyên của hoà bình, độc lập, tự do.

Xem thêm:  Suy nghĩ của em về lòng dũng cảm

3. Kết bài

Tình cảm thương dân, tinh thần trọng dân, ý chí chiến đấu vì dân là nội dụng xuyên suốt trong thơ văn Nguyễn Trãi. Xuất phát từ nhận thức sâu sắc và nảy sinh từ thực tiễn, nhận ra sức dân như nước làm lật thuyền, Nguyễn Trãi đã phản ánh lịch sử cũng như yêu cầu của lịch sử: nói đến nước là nói đến dân, nói đến dân lại cần phải có nước. Do đó, nó đã vượt qua bao thế kỷ, bao thời đại để vang danh trên thế giới, trở thành một tư tưởng vĩ đại của loài người.

[Văn mẫu học sinh giỏi] Phân tích bài Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi

Phân tích bài Bình Ngô đại cáo

Làm bài tham khảo

Mùa xuân năm 1428, đất nước ta sạch bóng quân thù, Nguyễn Trãi thay lời Lê Lợi viết “ Bình Ngô đại cáo” tổng kết mười năm cuộc kháng chiến chống quân Minh của nghĩa quân Lam Sơn và tuyên bố mở ra kỉ nguyên độc lập tự do của dân tộc. Có thể nhận nói “ Bình Ngô đại cáo” là bản hùng ca về lòng yêu nước gây xúc động mạnh mẽ trong lòng người đọc.

Sinh ra trong một gia đình có truyền thống yêu nước, trái tim Nguyễn Trãi đã sớm cảm thương với dân với nước. Sau này, khi giặc Minh cướp nước, cha bị đưa sang Trung Quốc, Nguyễn Trãi càng khắc sâu thêm ý chí rửa nhục cho nước, trả thù cho cha. Ông theo Lê Lợi tham gia khởi nghĩa và góp phần làm nên chiến thắng hào hùng cho dân tộc. Chiến thắng vẻ vang ấy, tình yêu nước cháy bỏng ấy đã được kết tinh trong áng văn bất hủ “ Bình Ngô đại cáo”.

Không như những tác phẩm khác, tình yêu nước thương dân của Nguyễn Trãi đã được nâng lên tầm tư tưởng, đó là tư tưởng nhân nghĩa sâu sắc:

“ Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân

Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”.

Loading...

Nhân nghĩa là quan niệm Nho gia đề cao mối quan hệ tốt đẹp giữa người với người và xã hội mà trong thời phong kiến, nhân nghĩa là yêu nước, là trung quân ái quốc. Đến Nguyễn Trãi, nhân nghĩa đã được nâng lên tầm khái quát, tiến bộ. Nó không chỉ là trung với vua, là một lòng theo vua mà quan trọng nhất là thương dân, yêu dân, lấy dân làm gốc, “ cốt ở yên dân”. “ Yên dân”, quan tâm đến hạnh phúc, ấm no của dân cũng đồng nghĩa với việc đâú tranh đánh đuổi kẻ thù của dân, diệt trừ những kẻ tham tàn bạo ngược “ quân điếu phạt trước lo trừ bạo”. Dân có hạnh phúc thì đất nước mới thái bình bền lâu. Nó đã được chứng minh bằng sự tồn tại của nước Đại Việt ta như một chân lý lịch sử:

“ Như nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

Núi sông bờ cõi đã chia

Phong tục Bắc Nam cũng khác

Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương.”

Ngoài khẳng định về lãnh thổ và ý thức về chủ quyền như trong thơ thần của Lí Thường Kiệt, Nguyễn Trãi đã nêu lên những yếu tố đầy đủ nhất của một quốc gia độc lập: văn hiến, lịch sử, phong tục tập quán. Với một quốc gia, lãnh thổ, núi sông phải được chia rõ ràng thì văn hiến càng đậm nét và không thể nhầm lẫn. Phong tục tập quán cũng như văn hóa ở mỗi miền Nam, Bắc hay Đại Việt, Trung Quốc đều có những nét riêng không thể xoá bỏ. Từ đó làm nên bản sắc văn hóa dân tộc như một lời khẳng định đanh thép về đất nước hoàn toàn độc lập, có chủ quyền, ngang hàng với các triều đại phong kiến phương Bắc:

Xem thêm:  Phân tích nhân vật Nhuận Thổ trong truyện ngắn Cố hương

“ Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập

Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương.”

Giọng thơ hùng hồn chất chứa niềm tự hào dân tộc mãnh liệt. Các vua nước ta cũng như vua Trung Quốc đều là bậc đế vương trên giang sơn của mình. Và chính nhân tài, là con người đã góp phần khẳng định nền độc lập chủ quyền ấy:

“ Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau

Song hào kiệt đời nào cũng có.”

Đất nước ta có chủ quyền, độc lập nên mọi hành vi xâm lấn của kẻ thù đều là phi nghĩa. Bởi vậy, chúng phải nhận lấy sự thất bại, tiêu vong:

“ Lưu Cung tham công nên thất bại

Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong

Cửa Hàm Rồng bắt sống Toa Đô

Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã.”

Đây chính là sức mạnh của nhân nghĩa. Nhân nghĩa là yên dân mà cũng là trừ bạo. Trong “ Bình Ngô đại cáo”, ngòi bút Nguyễn Trãi đã thấu rõ nối đau và căm hận của nhân dân gặp buổi lầm than:

“ Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn

Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”

“ Nặng thuế khoá sạch không đầm núi”

“ Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ

Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng…”

Đâu lòng biết bao trước cảnh đất nước bị dày xéo, nhân dân bị áp bức. Chúng tàn nhẫn nướng dân ta trên ngọn lửa hung tàn. Chúng ngang nhiên đặt ra những thứ thuế khoá nặng nề bắt dân ta phục dịch. Chúng ép dân ta lên rừng xuống biển đãi vàng mò ngọc. Chúng vơ vét sản vật của ta, nhiễu dân ta. Để rồi những người dân đáng thương ấy phải chịu cảnh gia đình tan tác, con cái nheo nhóc, muôn loài bị phá hủy… Tội ác của quân thù đến độ:

“ Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội

Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi.”

Nhân nghĩa mách bảo Nguyễn Trãi đã đến lúc trừ bạo để yên dân. Chính từ đau nỗi đau của dân,thương cho dân, ông đã quật dậy ý chí kiên cường bất khuất của toàn quân, quật dậy tình yêu cuộc sống, yêu gia đình, đất nước của mọi người để cùng chống lại quân Minh xâm lược:

“ Đem đại nghĩa để thắng hung tàn

Lấy chí nhân để thay cường bạo”

Tư tưởng nhân nghĩa đã thể hiện tinh thần nhân bản và giá trị nhân văn sâu sắc là chim chỉ nam cho đường lối chính trị và quân sự của khởi nghĩa Lam Sơn. Nhân nghĩa đã giúp Lê Lợi giương cao ngọn cờ chính nghĩa mang về chiến thắng vẻ vang cho dân tộc:

Xem thêm:  Suy nghĩ về mạng xã hội

“ Đánh một trận sạch không kình ngạc

Đánh hai trận, tan tác chim muông”

Chiến thắng kẻ thù xâm lăng, nhận ra kẻ thù đã “ tham sống sợ chết mà hoà hiếu thực lòng”, Nguyễn Trãi đã mưu phạt công tâm để tránh đổ máu và thu phục được lòng người. Với tướng giặc, ông mở ra cho đường hiếu sinh, tha bổng cho về nước. Dùng nhân nghĩa để đối xử với kẻ bại trận, xoa dịu hận thù để không gây ra hậu quả về sau chính là đại nghĩa với nhân dân “ Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.”

Chiến tranh kết thúc, Nguyễn Trãi thay lời Lê Lợi tuyên bố đồng thời khẳng định một lần nữa quyền độc lập tự chủ lâu dài của đất nước. Lịch sử sang trang, đất nước bước vào kỉ nguyên mới, kỉ nguyên của hoà bình, độc lập, tự do:

“ Xã tắc từ đây vững bền

Giang sơn từ đây đổi mới

Muôn thuở nền thái bình vững chắc

Ngàn thu vết nhục nhã sạch làu.”

Tình cảm thương dân, tinh thần trọng dân, ý chí chiến đấu vì dân là nội dụng xuyên suốt trong thơ văn Nguyễn Trãi. Xuất phát từ nhận thức sâu sắc và nảy sinh từ thực tiễn, nhận ra sức dân như nước làm lật thuyền, Nguyễn Trãi đã phản ánh lịch sử cũng như yêu cầu của lịch sử: nói đến nước là nói đến dân, nói đến dân lại cần phải có nước. Do đó, nó đã vượt qua bao thế kỷ, bao thời đại để vang danh trên thế giới, trở thành một tư tưởng vĩ đại của loài người.

Bùi Thị Chung

Loading...

Ứng dụng VĂN MẪU TỔNG HỢP trên điện thoại với hơn 30k bài văn mẫu hay nhất, giải bài tập SGK, soạn văn đầy đủ chi tiết. Hãy tải App ngay để chúng tôi phục vụ bạn tốt hơn nhé!

Nếu thấy bài viết hay, hãy động viên và chia sẻ ban biên tập! Các bình luận không phù hợp sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.

DMCA.com Protection Status