[Văn mẫu học sinh giỏi] Phân tích bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu

[Văn mẫu học sinh giỏi] Phân tích bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu

Dàn ý chi tiết

1. Mở bài:

Thời Đường Trung Quốc là một trong những thời đại lớn mạnh nhất trong lịch sử Trung Quốc. Nó lớn mạnh không chỉ bởi sự giàu có, hưng thịnh mà còn bởi nền văn hóa phong phú, đa dạng với sự góp mặt của rất nhiều tác phẩm văn học có giá trị vượt thời đại và vô số nhà văn, nhà thơ tài năng. Một trong số những nhà văn, nhà thơ ấy, người đọc Việt Nam biết nhiều đến nhà thơ Thôi Hiệu với bài thơ “ Hoàng Hạc lâu”.

2. Thân bài

a. Khái quát về tác giả, tác phẩm:

Thôi Hiệu ( 704- 754) là một nhà thơ nổi tiếng với các tác phẩm có ý nghĩa đánh dấu sự lớn mạnh của thơ Đường và thể hiện một phong cách thơ Thôi Hiệu đặc sắc không thể trộn lẫn.

– “ Hoàng Hạc lâu” có thể coi là một trong những bài thơ hay nhất thời Đường thể hiện tâm sự thầm kín về nhân tình thế thái và chuyện được mất khen chê.

b. Phân tích

– Hai câu thơ đầu:

+ “ Hạc vàng” là một điển cố Trung Quốc về truyền thuyết Phí Văn Vi từ một mỏm núi bên sông Trường Giang cưỡi hạc vàng lên tiên. Sau này, người ta gọi mỏm núi này là Hoàng Hạc Cơ và dựng lầu Hoàng Hạc để kỉ niệm sự tích ấy.

=> gợi lại một thời oanh liệt, chói chang, hào hùng nhưng đã mãi mãi chìm vào dĩ vãng, để lại giờ đây là sự trơ trọi, lạc lõng.

+ “ Trơ” là trơ trọi, là chỉ còn một mình không có bất cứ thứ gì xung quanh.

=> não nề cô độc.

+ Phép đối lập tương phản giữa câu thơ thứ nhất và thứ hai gợi lên hai cảnh trái ngược trong quá khứ và hiện tại.

=> nuối tiếc khôn nguôi.

Hai câu tiếp:

+ “ Hạc vàng một khi đã bay đi, không bao giờ trở lại”.

=> Tất cả là quá khứ, cái đã qua là cái đã mất, để lại một nỗi nuối tiếc khôn cùng.

+ “ Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay”

=> hoài niệm và tiếc nuối. Ẩn sau đó, nhà thơ thầm kín gửi gắm cõi lòng u uất về nhân tình thế thái đã đổi thay.

Hai câu tiếp:

+ “ Hán Dương” và “ Anh Vũ” là hai địa danh bên sông Trường Giang, cạnh lầu Hoàng Hạc được vẽ nên là bức tranh thiên nhiên với nền cỏ xanh non và mặt sông phẳng lặng.

=> đẹp bình lặng, yên ả nhưng man mác nỗi buồn. Nó đẹp nhưng cô liêu, hoang vắng càng khiến lòng người buồn sầu, trĩu nặng.

Xem thêm:  Bình luận câu tục ngữ Tốt gỗ hơn tốt nước sơn

– Hai câu thơ cuối:

+ Mầu sắc cổ điển của thơ Đường bao trùm và chi phối toàn bộ cảm xúc.

+Thời gian: hoàng hôn

=> dễ gợi buồn, và nỗi niềm nhớ quê, nhớ nhà.

+ Không gian: khói sóng mênh mang trên sông nước

=> Khói sóng trên sông cũng là sóng lòng nhà thơ cuộn trào mãnh liệt, đau xót. Cảm giác thơ Thôi Hiệu cô liêu đến não lòng. Chỉ cần một thứ khói sóng mờ ảo, nhà thơ liền đau nỗi đau quê hương, đất nước.

Liên hệ thơ Huy Cận :

“ Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.”

Tràng Giang” –

3. Kết bài

Bài thơ “ Hoàng Hạc lâu” đã kết thúc về ý thơ nhưng cảm giác thơ buồn da diết và nuối tiếc vẫn còn đọng lại và ám ảnh tâm trí bao người. Thật xứng đáng khi bài thơ là một trong những tác phẩm hay nhất thời Đường. Cái sâu sắc tạo nên hồn thơ đầy ám ảnh ấy là một tình yêu chân thành và mãnh liệt mà nhà thơ dành cho quê hương đã mất.

van mau hoc sinh gioi phan tich bai tho hoang hac lau cua thoi hieu - [Văn mẫu học sinh giỏi] Phân tích bài thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu

Phân tích bài thơ Hoàng Hạc Lâu

Làm bài tham khảo

Thời Đường Trung Quốc là một trong những thời đại lớn mạnh nhất trong lịch sử Trung Quốc. Nó lớn mạnh không chỉ bởi sự giàu có, hưng thịnh mà còn bởi nền văn hóa phong phú, đa dạng với sự góp mặt của rất nhiều tác phẩm văn học có giá trị vượt thời đại và vô số nhà văn, nhà thơ tài năng. Một trong số những nhà văn, nhà thơ ấy, người đọc Việt Nam biết nhiều đến nhà thơ Thôi Hiệu với bài thơ “ Hoàng Hạc lâu”.

Thôi Hiệu ( 704- 754) quê ở Biện Châu, nay thuộc thành phố Khai Phong, tỉnh Hà Nam, Trung Quốc là một nhà thơ nổi tiếng. Tuy Thôi Hiệu chỉ để lại còn hơn 40 bài song những tác phẩm ấy lại đánh dấu sự lớn mạnh của thơ Đường và thể hiện một phong cách thơ Thôi Hiệu đặc sắc không thể trộn lẫn. Tác phẩm “ Hoàng Hạc lâu” trong số đó có thể coi là một trong những bài thơ hay nhất thời Đường thể hiện tâm sự thầm kín về nhân tình thế thái và chuyện được mất khen chê.

Cả bài “ Hoàng Hạc lâu” nhuốm một nỗi buồn. Từng câu, từng chữ thơ rất chậm rãi, rất êm đềm, da diết đi vào lòng người một nỗi niềm thương chua xót, nuối tiếc. Chua xót vì nhân tình thế thái đã đổi thay. Nuối tiếc vì một quê hương vàng son đã không trở lại. Bài thơ mở đầu đã đưa người đọc ảm ảnh bởi một viễn cảnh hoang tàn và cô độc:

Xem thêm:  Suy nghĩ về câu nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Có tài mà không có đức là người vô dụng. Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”.

“ Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ

Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu.”

( Hạc vàng ai cưỡi đi đâu

Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ.)

“ Hạc vàng” là một điển cố Trung Quốc về truyền thuyết Phí Văn Vi từ một mỏm núi bên sông Trường Giang cưỡi hạc vàng lên tiên. Sau này, người ta gọi mỏm núi này là Hoàng Hạc Cơ và dựng lầu Hoàng Hạc để kỉ niệm sự tích ấy. Như vậy nhắc đến lầu Hoàng Hạc, nhà thơ muốn nhắc lại những truyền thuyết của đất nước. Và nhắc đến nhân vật lịch sử Phí Văn Vi là để gợi lại một thời oanh liệt, chói chang, hào hùng nhưng đã mãi mãi chìm vào dĩ vãng, để lại giờ đây là sự trơ trọi, lạc lõng:

“ Mà đây Hoàng Hạc riêng lầu còn trơ.”

“ Trơ” là trơ trọi, là chỉ còn một mình không có bất cứ thứ gì xung quanh. Một chữ “ trơ” kéo cả câu thơ xuống trở nên não nề và cô độc. Sự đối lập tương phản giữa câu thơ thứ nhất và thứ hai gợi lên hai cảnh trái ngược trong quá khứ và hiện tại. Cảnh xưa huy hoàng thì cảnh nay hoang tàn. Cảnh xưa chói lọi, vàng son thì cảnh nay lạc lõng, đổ nát. Bởi vậy, nhớ về ngày xưa, con người chỉ có một cảm giác nuối tiếc khôn nguôi:

“ Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản

Bạch vân thiên tải không du du.”

( Hạc vàng đi mất từ xưa

Nghìn năm mây trắng bây giờ còn bay)

“ Hạc vàng một khi đã bay đi, không bao giờ trở lại”. Lầu Hoàng Hạc gắn liền với hình ảnh thần tiên của điển tích xưa giờ đây chỉ còn là ảo ảnh trong hư vô. Nó không còn xuất hiện, cái đã qua là cái đã mất, để lại một nỗi nuối tiếc khôn cùng. Nhà thơ hỏi “ Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay” nhưng đáp án đã được định rõ ngay trong câu hỏi để hoài niệm và tiếc nuối. Ẩn sau đó, nhà thơ thầm kín gửi gắm cõi lòng u uất về nhân tình thế thái đã đổi thay.

Quê hương ngày hôm qua để lại cho lòng người một nỗi tiếc nuối còn quê hương của hôm nay đẹp đấy nhưng buồn biết bao:

“ Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ

Phương thảo thê thê Anh Vũ châu”

( Hán Dương sông tạnh cây bày

Bãi xa Anh Vũ xanh dày cỏ non.)

“ Hán Dương” và “ Anh Vũ” là hai địa danh bên sông Trường Giang, cạnh lầu Hoàng Hạc. Qua hai địa danh, tác giả vẽ nên một bức tranh thiên nhiên với nền cỏ xanh non và mặt sông phẳng lặng tạo nên nét đẹp bình lặng, yên ả nhưng man mác nỗi buồn. Nó đẹp nhưng cô liêu, hoang vắng càng khiến lòng người buồn sầu, trĩu nặng. Để rồi, quá xót xa, quá nuối tiếc, tình cảm trong lòng tác giả bỗng trỗi lên mãnh liệt:

Xem thêm:  Ghi Lại Cảm Xúc Khi Gặp Lại Bố Mẹ Sau Bao Ngày Xa Cách

“ Nhật môn hương quan hà xứ thị?

Yên ba giang thượng sử nhân sầu.”

( Quê hương khuất bóng hoàng hôn

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai?)

Đọc hai câu thơ cuối, người đọc cảm nhận rõ nét mầu sắc cổ điển của thơ Đường bao trùm và chi phối toàn bộ cảm xúc. Cảm xúc mở ra trong khoảnh khắc hoàng hôn dễ gợi buồn, dù là miền sơn cước hay chốn chương đài, người ta đều thấm thía một nỗi niềm nhớ quê, nhớ nhà. Hoàng hôn lại được nhìn trên khói sóng mênh mang như cuộn trong lòng người những con sóng lòng mãnh liệt, đau xót. Cảm giác thơ Thôi Hiệu cô liêu đến não lòng. Chỉ cần một thứ khói sóng mờ ảo, nhà thơ liền đau nỗi đau quê hương, đất nước. Sau này, ở Việt Nam, cũng buổi chiều trên sóng nước mênh mông vô cùng vô tận ấy, nhà thơ Huy Cận cũng có những dòng sóng lòng miên man:

“ Lòng quê dợn dợn vời con nước

Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.”

“ Tràng Giang” –

Bài thơ “ Hoàng Hạc lâu” đã kết thúc về ý thơ nhưng cảm giác thơ buồn da diết và nuối tiếc vẫn còn đọng lại và ám ảnh tâm trí bao người. Thật xứng đáng khi bài thơ là một trong những tác phẩm hay nhất thời Đường. Cái sâu sắc tạo nên hồn thơ đầy ám ảnh ấy là một tình yêu chân thành và mãnh liệt mà nhà thơ dành cho quê hương đã mất.

Bùi Thị Chung

Nhận thông báo qua email
Nhận thông báo cho
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments
DMCA.com Protection Status