[Văn mẫu học sinh giỏi] Phân tích bài thơ Nỗi oán của người phòng khuê của Vương Xương Linh

[Văn mẫu học sinh giỏi] Phân tích bài thơ Nỗi oán của người phòng khuê của Vương Xương Linh

Dàn ý chi tiết

1. Mở bài

Viết về cuộc đời, số phận của người phụ nữ không còn là một đề tài xa lạ trong nền văn học cả ở Việt Nam và trên thế giới, cụ thể là nền văn học Trung Quốc. Trong xã hội trung đại Trung Quốc, chúng ta được học đến tác phẩm viết về người phụ nữ là “ Nỗi oán của người phòng khuê” của nhà thơ Vương Xương Linh.

2. Thân bài

a. Khái quát tác giả, tác phẩm

Vương Xương Linh ( 698- 757) là một trong những nhà thơ nổi tiếng thời Thịnh Đường với thể thơ đặc sắc là thất ngôn tuyệt cú.

– Phong cách thơ: trong trẻo, tinh tế, thanh tân, thường đề cập đến cuộc sống của các tướng sĩ nơi biên cương, tình bằng hữu chân thành và cả nỗi sầu li biệt hận của người thiếu phụ khuê các qua bài thơ “ Nỗi oán của người phòng khuê”.

b. Phân tích

– Hai câu thơ đầu:

+ Hình ảnh người phụ nữ xinh đẹp, trẻ trung nơi phòng khuê các lạc quan và yêu đời.

+ Ngày mùa xuân trang điểm đẹp, lộng lẫy, lên lầu để soi gương.

=> “ bất tri sầu”, không biết đến nỗi buồn là như thế nào bởi nàng đã có niềm vui, niềm hạnh phúc là được xinh đẹp, được trẻ trung. Nàng chỉ mới ở độ tuổi trẻ đẹp nhất của một đời con người, độ tuổi chứa đầy tình yêu, đầy khao khát và sự lạc quan. Do đó, nàng chẳng biết chi đến buồn, đến phiền muộn.

– Hai câu cuối: bi kịch của những người thiếu phụ trong xã hội Trung Quốc xưa cùng với nỗi oán, sự hối hận của nàng vì tình duyên dang dở.

+ “ Mầu dương liễu”: Xưa ở Trung Quốc, mỗi khi chia tay, người ở lại bẻ một cành dương liễu tặng cho người ra đi để biểu thị nỗi lưu luyến. Do vậy, hình ảnh “ cành dương liễu”, “ mầu dương liễu” hay động tác bẻ liễu đã trở thành hình ảnh ước lệ, tượng trưng cho sự li biệt.

+ Tự trách: để chồng đi tòng quân lập công để kiếm chức tước, phong hầu.

Chí làm trai: đạo nam nhi phải có chức tước, địa vị bằng cách dùi mài kinh sử hoặc tòng quân đánh giặc để lập công có tước hầu.

Xem thêm:  Phát biểu cảm nghĩ của em về bài Cây tre Việt Nam của nhà văn Thép Mới

+ Người chồng của người thiếu phụ đi tòng quân để lại người vợ trẻ trung với bao khao khát yêu đương, để lại mối tình còn dang dở khiến cả người đi hay ở lại đều buồn sầu, bi đau, oán trách.

3. Kết bài

Bài thơ vừa là lời oán trách, vưà là lời tố cáo chiến tranh phi nghĩa và xã hội Trung Quốc bất công:

“ Ngoài biên máu chảy thành biển đỏ

Mở cõi nhà vua ý chưa bỏ”

Đỗ Phủ –

[Văn mẫu học sinh giỏi] Phân tích bài thơ Nỗi oán của người phòng khuê của Vương Xương Linh

Phân tích bài thơ Nỗi oán của người phòng khuê

Bài văn tham khảo

Viết về cuộc đời, số phận của người phụ nữ không còn là một đề tài xa lạ trong nền văn học cả ở Việt Nam và trên thế giới, cụ thể là nền văn học Trung Quốc. Trong xã hội trung đại Trung Quốc, chúng ta được học đến tác phẩm viết về người phụ nữ là “ Nỗi oán của người phòng khuê” của nhà thơ Vương Xương Linh.

Loading...

Vương Xương Linh ( 698- 757) tự là Thiếu Bá, quê ở Trường An, nay là thành phố Tây An, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc là một trong những nhà thơ nổi tiếng thời Thịnh Đường với thể thơ đặc sắc là thất ngôn tuyệt cú. Thơ Vương Xương Linh trong trẻo, tinh tế, thanh tân, thường đề cập đến cuộc sống của các tướng sĩ nơi biên cương, tình bằng hữu chân thành và cả nỗi sầu li biệt hận của người thiếu phụ khuê các qua bài thơ “ Nỗi oán của người phòng khuê”.

Mở đầu bài thơ, tác giả đã khắc họa nên hình ảnh người thiếu phụ xinh đẹp, trẻ trung, yêu đời:

“ Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu,

Xuân nhật ngưng trang thướng thúy lâu.”

( Trẻ trung nàng biết chi sầu

Ngày xuân trang điểm lên lầu ngắm gương.)

Người phụ nữ xinh đẹp, trẻ trung nơi phòng khuê các vốn rất lạc quan và yêu đời. Ngày mùa xuân cũng như bao người phụ nữ khác, nàng mong muốn được trang điểm thật đẹp, thật lộng lẫy, rồi bước lên lầu để soi gương, ngắm nghía vẻ đẹp của mình. Đây là nhu cầu, là sở thích là niềm vui của mỗi người phụ nữ. Người phụ nữ phòng khuê “ bất tri sầu”, không biết đến nỗi buồn là như thế nào bởi nàng đã có niềm vui, niềm hạnh phúc là được xinh đẹp, được trẻ trung. Nàng chỉ mới ở độ tuổi trẻ đẹp nhất của một đời con người, độ tuổi chứa đầy tình yêu, đầy khao khát và sự lạc quan. Do đó, nàng chẳng biết chi đến buồn, đến phiền muộn.

Xem thêm:  Viết đơn xin cấp thẻ mượn sách - Văn mẫu lớp 3

Thế nhưng, nàng xinh đẹp cho ai ngắm, nàng khao khát yêu đương nhưng khao khát ấy không được trọn vẹn bởi người chồng của nàng đã đi xa nơi chiến trường tòng quân kiếm tước hầu:

“ Hốt kiến mạch đầu dương liễu sắc

Hối giao phu tế mịch phong hầu”.

( Nhác trông vẻ liễu bên đường

“ Phong hầu”, nghĩ dại, xui chàng kiếm chi!)

Hai câu thơ cuối đã thể hiện bi kịch của những người thiếu phụ trong xã hội Trung Quốc xưa cùng với nỗi oán, sự hối hận của nàng vì tình duyên dang dở. Nàng trang điểm thật xinh đẹp, mặc đồ thật lỗng lẫy nhưng “ chợt thấy sắc xuân của cây dương liễu đầu đường” mà chạnh lòng sầu buồn, oán trách.

Xưa ở Trung Quốc, mỗi khi chia tay, người ở lại bẻ một cành dương liễu tặng cho người ra đi để biểu thị nỗi lưu luyến. Do vậy, hình ảnh “ cành dương liễu”, “ mầu dương liễu” hay động tác bẻ liễu đã trở thành hình ảnh ước lệ, tượng trưng cho sự li biệt. Cây liễu nếu đứng một mình trong mùa xuân căng tràn sức sống sẽ là màu của mùa xuân và tuổi trẻ, là mầu của khát vọng và hạnh phúc nhưng ở đây, cây liễu thướt tha, xinh đẹp, mền mại đã trở thành dấu hiêụ đau lòng của sự biệt ly mà chỉ cần nhìn thấy mầu liễu xanh, người phụ nữ “ bất tri sầu” liền đau đáu trong lòng một nỗi sầu buồn, day dứt, oán trách:

“ Hối giao phu tế mịch phong hầu.”

( “ Phong hầu”, nghĩ dại, xui chàng kiếm chi!)

Nàng tự trách mình để chồng đi tòng quân lập công để kiếm chức tước, phong hầu. Trong thời phong kiến, dù ở Việt Nam hay Trung Quốc thì người nam nhi sinh ra bắt buộc phải có chí làm trai. Chí làm trai nghĩa là đạo nam nhi phải có chức tước, địa vị bằng cách dùi mài kinh sử hoặc tòng quân đánh giặc để lập công có tước hầu. Và người chồng của người thiếu phụ cũng không phải là một ngoại lệ. Chàng cũng ra đi để lại người vợ trẻ trung với bao khao khát yêu đương, để lại mối tình còn dang dở khiến cả người đi hay ở lại đều buồn sầu, bi đau, oán trách.

Xem thêm:  Tả một cơn mưa rào, bài văn mẫu miêu tả cơn mưa rào mùa hạ

Nhưng, người phụ nữ sẽ không phải chịu cảnh oán giận, đau thương, người phu quân sẽ không phải lên đường tòng quân nếu chiến tranh phi nghĩa không diễn ra. Thời kì này, các cuộc chiến tranh ở Trung Quốc phần lớn là để mở rộng bờ cõi nên chúng đều là phi nghĩa, đều chà đạp lên hạnh phúc, tuổi xuân, lên khao khát của người phụ nữ. Do đó, bài thơ vừa là lời oán trách, vưà là lời tố cáo chiến tranh phi nghĩa và xã hội Trung Quốc bất công:

“ Ngoài biên máu chảy thành biển đỏ

Mở cõi nhà vua ý chưa bỏ”

– Đỗ Phủ –

Bùi Thị Chung

Loading...

Ứng dụng VĂN MẪU TỔNG HỢP trên điện thoại với hơn 30k bài văn mẫu hay nhất, giải bài tập SGK, soạn văn đầy đủ chi tiết. Hãy tải App ngay để chúng tôi phục vụ bạn tốt hơn nhé!

Nếu thấy bài viết hay, hãy động viên và chia sẻ ban biên tập! Các bình luận không phù hợp sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.

DMCA.com Protection Status