[Văn mẫu học sinh giỏi] Phân tích bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm

[Văn mẫu học sinh giỏi] Phân tích bài thơ Tống biệt hành của Thâm Tâm

Dàn ý chi tiết

1. Mở bài:

Ÿ Giới thiệu tác giả, tác phẩm:

–  Thâm Tâm sinh năm 1917 mất năm 1950, quê ở Hải Dương.

Bài thơ Tống Biệt Hành đã góp phần làm nên tên tuổi của ông, bài thơ được sáng tác năm 1940 với nội dung thể hiện niềm mến yêu, sự ngưỡng mộ và trân trọng đối với người lên đường đi xa vì nghĩa lớn.

Ÿ Nêu cảm nhận của cá nhân.

2. Thân bài:

Tống Biệt Hành: Bài hành tiễn biệt người đi xa, bài thơ đã viết về một cuộc chia ly mà không hẹn ngày về.

Ÿ Đoạn 1: Cảm nhận xao xuyến của người đưa tiễn trong phút tiễn đưa.

“Đưa người, ta không đưa qua sông,
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?”.

– Câu thơ đầu: Thâm Tâm đã thể hiện sự tiếc nuối của bản thân khi đã không tiễn đưa được người đi xa hơn.

– Câu thơ thứ hai: với hình thức câu hỏi tu từ “sao có tiếng sóng ở trong lòng?” là những dao động, là sự xao xuyên, một tâm trạng khắc khoải khôn nguôi khi sắp phải xa người mình yêu mến.

– Bóng chiều thường là hình ảnh của nỗi buồn, nỗi nhớ và trong cuộc chia ly này, bóng chiều vẫn xuất hiện nhưng nó lại chẳng mang một ý nghĩa đặc biệt nào cả, đây chính là một sự nhạt nhòa của ánh sáng “không thắm”, “không vàng vọt”.

– Câu thơ thứ 4: Ta lại tiếp tục bắt gặp hình thức câu hỏi tu từ, bóng chiều được phản chiếu qua ánh mắt, đây có lẽ là hình ảnh giả tưởng hay cũng chính là sắc đỏ trong ánh mắt khi cảm xúc dâng trào, nỗi nhớ thương cuồn cuộn trong lòng tác giả.

=> Dù biết trước tình cảnh nhưng ở chính giây phút tiễn đưa ấy tác giả đã không kiềm nổi được cảm xúc của mình.

* 2 câu thơ tiếp theo:

“Đưa người ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình một dửng dưng”

–  Khung cảnh chia ly được miêu tả rõ hơn, chẳng đông đúc kẻ tiễn người đưa mà chỉ có hai chủ thể: Tác giả và người ra đi.

–  Tác giả xem người ra đi như người thân trong gia đình, mà cũng chính bởi vậy mà nỗi hụt hẫng, đau thương như tăng thêm bội phần.

– “Dửng dưng” ở đây không phải là vô tâm mà chính là tư thế ra đi, một tư thế hiên ngang, một ý chí đầy bất khuất.

Ÿ Đoạn 2: Chí nhớn và quyết tâm thực hiện chí nhớn của người ra đi.

 “Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ

Chí nhớn chưa về bàn tay không

Thì không bao giờ nói trở lại

Ba năm mẹ già cũng đừng mong!”

– “Ly khách”: Từ Hán Việt đã làm cho buổi đưa tiễn trở nên trang trọng.

– “Con đường nhỏ”: con đường của lý tưởng, vì nhỏ nên nó trở nên gian nan hơn, khó khăn hơn.

-“Chí nhớn chưa về bàn tay không/ Thì không bao giờ nói trở lại”: Lần ra đi không hẹn ngày quay về, chí lớn chưa thành quyết không về với đôi bàn tay không. Đây chính là tư tưởng của những người quyết tâm làm chuyện đại sự.

– Và người đi cũng đã xác định rõ tư tưởng cho người ở lại rằng nếu ba năm bạch vô âm tính xin người ở lại đừng mong.

=> Tư thế và ý chí của người ra đi được nhấn mạnh và làm rõ, dù ta không biết mục đích và nguyên nhân dẫn đến cuộc đưa tiễn này nhưng qua sắc thái của câu thơ, ta cảm nhận được cái chân thành, cao cả trong lí tưởng.

Ÿ Đoạn 3: Tâm trạng và tình cảm của người ra đi đối với gia đình, người thân.

 “Ta biết người buồn chiều hôm trước
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt
Một chị, hai chị cũng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót”

– Và không chỉ có mình Thâm Tâm buồn mà còn có cả những người thân trong gia đình của người ra đi cũng không khỏi đau xót, mấy ai lại có thể bình thường, vui vẻ khi người thân mình đi vào chỗ nguy hiểm mà không hẹn ngày gặp lại, và cũng chính vì điều đó mà “một chị, hai chị” đã hết lời khuyên ngăn trong vô vọng.

Xem thêm:  Phân tích truyện ngắn Lão Hạc của Nam Cao - Văn mẫu lớp 9

– “Dòng lệ sót”: là giọt nước mắt đau khổ cũng là giọt nước mắt chấp nhận đầy miễn cưỡng, dù bản thân không muốn nhưng vẫn phải nói lời động viên khích lệ đứa em trai của mình.

 “Ta biết người buồn sáng hôm nay
Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc, chiếc khăn tay”

– Bên dưới cái vỏ bọc “Dửng dưng ” ấy chính là nỗi đau được người ra đi giấu kín nơi đáy lòng, chiều hôm trước người buồn và chiều hôm nay cũng vậy. Giây phút chia ly, nỗi buồn, nỗi đau trong người ra đi vẫn không giây nào nguôi ngoai.

– “Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay”: bầu trời bỗng tươi đến lạ giữa khung cảnh đượm buồn, làm cho nhà thơ tin vào tương lai, một tương lai của sự đoàn viên, sum họp. => Dùng thời gian để nói về ý niệm tình cảm, đây chính là sự độc đáo trong cách thể hiện của nhà thơ.

– Em nhỏ ngây thơ bỗng xuất hiện với chiếc khăn tay: đây chính là người em đơn thuần hay chính là người thương của người ra đi. Chiếc khăn tay như một tín vật chia xa, nó vừa thể hiện tình cảm của người ra đi và ở lại cũng như sự nuối tiếc.

 “Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say”

– Một khoảng thời gian sau cuộc chia ly, khi người đi chẳng thấy về. Tác giả nhận thức được hiện thực, nhưng vẫn xót xa tự hỏi rằng “Ừ nhỉ, người đi thực!”. Dù thời gian ra đi dài hay ngắn đi chăng nữa thì cảm xúc đau xót vẫn luôn ngự trị bên trong tác giả, bên trong người mẹ già, người chị, người em nơi quê nhà.

– Người ra đi để lại phía sau là mẹ già đứng trước cửa chờ con về chẳng ai phụng dưỡng, người chị nhớ em “coi như hạt bụi”, người em “thà coi như hơi rượu say “.

– Hình ảnh “hơi rượu say ” đầy độc đáo bởi rượu sẽ làm con người ta thăng hoa nhưng liệu khi hơi rượu đó không còn thì cảm xúc thăng hoa đấy có ở lại không.

=> Bốn câu thơ cuối đã cho ta thấy nỗi đau, nỗi xót xa trong mỗi người ở lại. Thời gian chờ đợi càng dài thì nỗi đau trong những người ở lại càng tăng thêm.

3. Kết bài:

– Nội dung tác phẩm

– Cảm xúc của bản thân.

Phân tích bài thơ Tống biệt hành

Bài làm tham khảo

Đến với thế giới thơ mới, ta sẽ bắt gặp ngay “một hồn thơ rộng lớn như Thế Lữ, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kì dị như Chế Lan Viên… và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu…” nhưng sẽ mãi là thiếu sót nếu ta không nhắc đến Thâm Tâm – một hồn thơ mới mang tâm sự của “thời đại cái tôi”. Thơ của ông sau những tâm sự uất ức đó đây, là một lòng yêu nước kín đáo và cả khát vọng “lên đường” – trước hết là để thoát khỏi cuộc sống bế tắc và Tống Biệt Hành là một trong số đó. Bài thơ được Thâm Tâm viết vào năm 1940 đã kể về một cuộc đưa tiễn với những dòng thơ đặc tả tâm trạng của người ở lại cũng như người ra đi vì nghĩa lớn.

Loading...

Dưới nhiều góc nhìn khác nhau, ta vẫn thấy Tống Biệt Hành mang đậm màu sắc của cấu tứ Thơ Đường, tuy nói nhưng lại không nói, chẳng nói hết mình nhưng để lại phía sau nó là những nỗi buồn in sâu trong lòng người.

Mở đầu bài thơ ta bắt gặp ngay cảnh tiễn biệt, với những cảm nhận xao xuyến của người đưa tiễn trong phút tiễn đưa.

“Đưa người, ta không đưa qua sông,
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?”.

Thâm Tâm lòng bỗng cảm thấy nuối tiếc, xót xa mà viết nên câu thơ thứ nhất, ông chẳng thể đưa người qua hết dòng sông kia. Dòng sông như dấu chấm hết cho một cuộc gặp gỡ và cũng chính dòng sông đã làm cho lòng người phải dậy sóng. Với hình thức câu hỏi tu từ, câu thơ thứ hai chính là những dao động, là sự xao xuyên, một tâm trạng khắc khoải khôn nguôi khi sắp phải xa người mình yêu mến nhất. Bóng chiều thường là đại diện của sự chia ly, nỗi buồn, nhưng trong thơ của Thâm Tâm nó lại chẳng mang một ý nghĩa đặc biệt nào cả. “Không thắm ” cũng chẳng “vàng vọt” – một sự nhạt nhòa dần của ánh sáng, bóng chiều với ánh hoàng hôn như phản chiếu qua đôi mắt kia, đây là giã tưởng của riêng tác giả hay chính là sắc đỏ của “đôi mắt trong” khi cảm xúc dâng trào? Và mặc dù đã biết trước tình cảnh nhưng ở chính giây phút tiễn đưa ấy, tác giả lại chẳng thể kiềm nổi cảm xúc, nỗi buồn của chính mình – một nỗi buồn như dòng chảy của sông kia sẽ cứ chảy mãi xuyên suốt bài thơ.

Xem thêm:  Soạn bài: Kể chuyện: Kể chuyện đã nghe, đã đọc

Đến với hai câu thơ tiếp theo khung cảnh chia ly như được miêu tả rõ nét hơn

   “Đưa người ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình một dửng dưng”

Nơi đây chẳng đông đúc kẻ tiễn người đưa mà chỉ tồn tại vỏn vẹn hai chủ thể là tác giả và người ra đi. Tác giả xem người ra đi như một người thân trong gia đình và cũng chính vì vậy mà nỗi buồn trong tâm trạng của tác giả như tăng thêm bội phần. Ly khách bước đi “dửng dưng “, đây không phải là sự vô tâm hay hời hợt mà chính là tư thế ra đi đầy hiên ngang, bất khuất đi theo chí lớn của một đấng nam nhi.

Cả đoạn một như một con thuyền đang chở đầy tâm trạng của người đọc chìm dần xuống dòng sông chia ly. Nhưng chính chí nhớn và quyết tâm thực hiện chí nhớn của người ra đi đã cứu lấy con thuyền.

   “Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ
Chí nhớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại
Ba năm mẹ già cũng đừng mong!”

“Ly khách! Ly khách!” tiếng gọi từ đáy lòng của tác giả nhưng nó chẳng thể phát ra thành lời bởi tác giả thấy được ý chí của người ra đi, người sẵn sàng bước đi trên con đường lí tưởng dù biết nó đầy gian nan, khó khăn. Lời ly biệt, cũng như một lời khẳng định

Chí nhớn chưa về bàn tay không/
Thì không bao giờ nói trở lại “

lần ra đi chẳng hẹn ngày quay về, chí lớn chưa thành quyết không về với đôi bàn tay không. Ta chẳng biết người ra đi vì điều gì, vì mục đích gì, hay chăng người đi chỉ để thỏa mãn khát khao của chính mình. Lời từ biệt cuối cùng, người đi đã xác định rõ tư tưởng cho người ở lại rằng nếu ba năm bạch vô âm tính xin người ở lại đừng mong. Nhưng sau tất cả, với bao lời từ biệt, ta đã thấy phảng phất đâu đó một tâm hồn của tráng sĩ mang trong mình chí lớn, một lí tưởng mang đầy sự chân thành, cao cả.

Nhưng nếu chỉ vì lí tưởng cá nhân mà đánh đổi tất cả từ tình bạn, tình yêu, tình thân gia đình và cả tình mẫu tử thì có quá tàn nhẫn chăng? Nếu nhìn ở một góc độ nào đó, ta sẽ cảm thấy đây có lẽ là sự ích kỉ của đấng nam nhi nhưng khi nhìn ở một góc độ khác, nó lại là cả một sự hi sinh, hi sinh những thứ cứ ngỡ sẽ chẳng bỏ được để vì một nghĩa lớn. Và khi phải nhìn thấy người ở lại phải buồn về quyết định của mình nhưng vẫn vững vàng bước đi không khựng lại, đã khiến người đọc phải khâm phục ít nhiều.

   “Ta biết người buồn chiều hôm trước
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt
Một chị, hai chị cũng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót”

Mấy ai lại bình thường, vui vẻ khi nhìn thấy người thân mình đi vào nơi nguy hiểm chết chóc mà không hẹn ngày trở về. “Một chị, hai chị ” khuyên em hết cả nước mắt để đến giọt nước mắt cuối cùng, các chị lại đành ngậm ngùi động viên em mình ra đi cũng chỉ vì hai chữ “chí nhớn ” dù bản thân chẳng muốn. Và dù là chiều hôm trước hay sáng hôm nay thì nỗi buồn thật sự vẫn chẳng thể chấm dứt.

   “Ta biết người buồn sáng hôm nay
Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc, chiếc khăn tay”

Sáng hôm nay, tiết trời vẫn chưa chuyển sang thu nhưng lại tươi đến lạ như báo hiệu vào một tương lai tươi sáng, một tương lai với đầy sự hứa hẹn về một ngày sum họp, đoàn viên. Một tia hi vọng sau bao nỗi hụt hẫng khôn cùng. Em nhỏ ngây thơ với đôi mắt biết, đây đơn thuần là một người em hay chính là người thương của ly khách? Chiếc khăn tay gói tròn nỗi thương tiếc như tín vật chia xa, gửi gắm bao nỗi lòng của người ra đi cũng như người ở lại. Hết từ biệt gia đình lại từ biệt bạn bè, vì nghĩa lớn, người trượng phu thật sự đã phải đánh đổi rất nhiều. Nhưng kết quả ở cuối con đường nhỏ kia thật sự chẳng ai đoán được, chờ mong, động viên, khích lệ luôn là những thứ duy nhất mà người ở lại có thể làm được cho người ra đi.

Xem thêm:  Phân tích Nỗi sầu oán của người cung nữ trích Cung oán ngâm của Nguyễn Gia Thiều

Có những thứ thực sự đã xảy ra, nhanh đến chóng mặt mà không thể lý giả được với tác giả

   “Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu say”

Người thật sự đã đi rồi ư, nó nhanh như một cái chớp mắt vậy. Thâm Tâm dù biết vẫn phải tự hỏi lại rồi lại tự mình trả lời “Ừ nhỉ, người đi thực! “. Bằng một cách tự sự nào đó, Thâm Tâm đã khiến ta phải đồng cảm cùng nổi buồn của ông Người đi rồi, để lại mẹ già lẻ bóng chẳng ai phụng dưỡng, ngày ngày trông tin con trước hiên nhà, để lại người chị với nỗi nhớ thư em da diết, sầu thương và người em buồn tủi chẳng biết cách nào quên đi nỗi buồn. Hình ảnh “hơi rượu say ” đầy độc đáo, say rồi cảm xúc thăng hoa nhưng hết say nó có còn ở lại, hay tan biến theo mây khói, nhấp chén rượu say đổi lấy sự vui vẻ nhưng sau đó lại là gấp bội phần nỗi buồn. Thật sự, bốn câu thơ cuối đã cho ta thấy nỗi đau, nỗi xót xa trong mỗi người ở lại. Thời gian chờ đợi càng dài thì nỗi đau trong những người ở lại càng tăng thêm, đau lại càng thêm đau.

Nam Cao từng nói: “Nghệ thuật không phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối. Nghệ thuật chỉ có thể là tiếng kêu đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than”. Và Tống Biệt Hành như vừa chứng minh điều đó, nó chẳng mĩ miều với những lời văn thơ mộc mà chỉ đơn giản là những từ ngữ mộc mạc của kẻ đưa tiễn. Chính thời đại đã làm nên Thâm Tâm và làm nên Tống biệt hành, bài thơ đã trở thành lời bộc bạch khi tác giả chẳng thể kể hay nói cũng ai nỗi buồn của chính mình. Tài hoa của người nghệ sĩ được hình thành vào những giây phút đau thương nhất thật quả không sai.

Thái Lê Vân

Loading...

Ứng dụng VĂN MẪU TỔNG HỢP trên điện thoại với hơn 30k bài văn mẫu hay nhất, giải bài tập SGK, soạn văn đầy đủ chi tiết. Hãy tải App ngay để chúng tôi phục vụ bạn tốt hơn nhé!

Nếu thấy bài viết hay, hãy động viên và chia sẻ ban biên tập! Các bình luận không phù hợp sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.

Leave a Reply

avatar
  Nhận thông báo qua email  
Nhận thông báo cho
DMCA.com Protection Status