[Văn mẫu học sinh giỏi] Phân tích hình tượng người nghĩa sĩ trong Văn tế nghĩa sĩ cần giuộc của Nguyễn Đình Chiểu

[Văn mẫu học sinh giỏi] Phân tích hình tượng người nghĩa sĩ trong Văn tế nghĩa sĩ cần giuộc của Nguyễn Đình Chiểu

Dàn ý chi tiết

1. Mở bài:

Ÿ Giới thiệu tác giả, tác phẩm

– Nguyễn Đình Chiểu – Đồ Chiểu (1822- 1888), tự là Mạch Trạch, hiệu Trọng Phủ, Hối Trai (cái phòng tối).

– Phong cách sáng tác

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc được viết theo yêu cầu của Đỗ Quang – Tuấn phủ Gia Định để tế những nghĩa sĩ đã hi sinh trong trận đồn quân Pháp ở Cần Giuộc đêm 16/12/1861.

Ÿ Nêu cảm nhận của bản thân, giới thiệu hình tượng người nghĩa sĩ.

2. Thân bài:

Ÿ Đoạn 1:

– “Hỡi ôi!”: Từ cảm thán thể hiện cảm xúc tiếc thương đối với tình cảnh thực tại của đất nước.

– Tích chất: dữ dội của cuộc chiến tranh, người dân dược đặt vào thử thách lớn nhất của lịch sử.

– Với bút pháp đối lập, tác giả đã khẳng định ý nghĩa của sự hi sinh đầy cao quý của những người nhân dân nghĩa sĩ.

Ÿ Đoạn 2:

Quá trình chuyển biến:

Hóa thân của dân tộc: nhân dân => nghĩa sĩ

* Nguồn gốc xuất thân:

– Người dân tộc Nam Bộ.

– Hoàn cảnh sống: Họ luôn chăm chỉ làm ăn nhưng vẫn nghèo khó.

– Hoàn cảnh sống: họ luôn chăm chỉ làm ăn nhưng vẫn nghèo khó

– Công việc:

+ Cày bừa, cuốc, cấy đã vốn quen từ lâu.

+Tập khiên, tập sung, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó.

– Nơi sống: ruộng trâu, làng bộ.

=> Họ là những người hiền lành, chất phác, chăm chỉ làm ăn, xa lạ với chiến tranh

* Lòng căm thù giặc:

– Khi nhìn thấy kẻ thù tới:

+ Muốn tới ăn gan.

+ Muốn ra cắn cổ.

+ Sẵn sàng chiến đấu hết sức mình.

=> Lòng căm thù giặc trở nên mãnh liệt.

* Nghệ thuật: Đối lập, từ Hán Việt điển tích và nhiều động từ mạnh.

=> Sự chuyển biến của những người nông dân nghĩa sĩ, vừa bình thường, vừa phi thường.

Hình ảnh của những người nông dân nghĩa sĩ đánh Tây:

Điều kiện chiến đấu:

– Là dân ấp, dân lân, chỉ có ngọn tầm vông, bao tấu, bao ngòi, chi nài sắt, dao tu, nón gõ, gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay.

=> Chỉ là những vật dụng thô sơ, có gì dùng đó, binh lính không được đào tạo chuyên nghiệp.

Tinh thần chiến đấu:

– Đạp rào bước tới coi giặc như không.

– Xô cửa xông vào.

– Kẻ đâm ngang, người chém ngược.

=> Tinh thần chiến đấu như vũ bão.

*Nghệ thuật: đối lập, động từ mạnh, dùng từ ngữ đậm chất giản dị, nghệ thuật tả thực.

=> Nguyễn Đình Chiểu đã dựng nên một bức tượng đài kì vĩ với lòng quả cảm, tinh thần kiên cường bất khuất của những người nông dân nghĩa sĩ đánh Tây.

Ÿ  Đoạn 3:

– Họ tiếc hận vì đã hi sinh khi sự nghiệp còn đang dang dở.

– Xót xa của những gia đình mất người thân, cả thiên nhiên nhuốm màu u tối, tang tóc.

– Căm hờn những kẻ đã gây ra nghịch cảnh ấy.

Xem thêm:  Phân tích bài Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác của Ăng Ghen

=> Tiếng khóc quy tụ từ nhiều nguồn cảm xúc. Một tiếng khóc uất ức, nghẹn ngào trước tình cảnh đau thương của đất nước, không chỉ trong lòng tác giả, toàn nhân dân mà còn bao trùm khắp cỏ cây, sông núi;tất cả dường như nhuốm màu tang tóc, bi thương.

* Niềm vui cảm phục và tự hào đối với những nhân dân nghĩa sĩ đã hi sinh:

– Họ chỉ là những nhân dân chân chất, dám đứng lên để bảo vệ tấc đất, ngọn rau, miếng cơm, manh áo, chống lại kẻ thù.

– Lấy cái chết làm rạng ngời một chân lý của thời đại: “Thà chết vinh còn hơn sống nhục”

* Biểu dương công trạng của họ:

– Công trạng của họ được tổ quốc ghi công, nhân dân ngưỡng mộ.

Ÿ Đoạn 4:

– Sống đánh giặc, chết cũng đánh giặc.

– Sống thờ vua, chết cũng thờ vua.

=> Thể hiện ý nghĩa bất từ của cái chết vì nước vì dân.

3. Kết bài:

Ÿ Nội dung: Khẳng định vẻ đẹp hình tượng người nông dân nghĩa sĩ ( cảm nhận của bản thân ).

Ÿ Nghệ thuật: Xây dựng hình tượng nhân vật kết hợp nhuần nhuyễn chất trữ tình và tính hiện thực, ngôn ngữ bình dị, trong sáng, sinh động.

Loading...

Phân tích hình tượng người nghĩa sĩ

Bài làm tham khảo

Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gương trong sáng, cao đẹp về nhân cách, nghị lực và ý chí về lòng yêu nước, thương dân và thái độ kiên trung, bất khuất trước kẻ thù. Thơ văn ông là bài ca đạo đức, nhân nghĩa, là tiếng nói yêu nước cất lên từ cuộc chiến đấu chống quân xâm lược, là thành tựu nghệ thuật xuất sắc mang đậm sắc thái Nam Bộ và Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc chính là một trong số đó. Bài thơ được viết theo yêu cầu của Đỗ Quang – Tuấn phủ Gia Định để tế những nghĩa sĩ đã hi sinh trong trận đồn quân Pháp ở Cần Giuộc đêm 16/12/1861. Nhưng thứ thật sự làm nên tên tuổi của Nguyễn Đình Chiểu cũng như Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc có lẽ là cách ông đưa hình tượng người nông dân nghĩa sĩ vào bài thơ để ta có thể cảm nhận được công lao của người nông dân trong cuộc chiến tranh bảo vệ đất nước to lớn tới mức nào.

Tiếng khóc ai oán cất lên ngay từ đầu bài thơ “Hỡi ôi”, từ cảm thán thể hiện cảm xúc tiếc thương đối với tình cảnh hiên tại của đất nước, cuộc chiến tranh ngày càng ác liệt và người dân đặc biệt là tầng lớp nông dân lúc bấy giờ đã được đặt vào một thử thách to lớn nhất trong lịch sử Việt Nam. Với bút pháp đối lập, Nguyễn Đình Chiểu đã khẳng định của sự hi sinh đầy cao quý của những người nông dân nghĩa sĩ, sự hi sinh đầy tự nguyện này mấy ai nhìn vào cũng phải ngưỡng mộ.

Thật sự, để từ một người nông dân trở thành một nghĩa sĩ chẳng dễ dàng chút nào, họ là những người nông dân Nam Bộ quanh năm chỉ biết chăm chỉ làm ăn bên cạnh cái cuốc, cái cày, đồng ruộng, con trâu mà vẫn nghèo khó, nào đã bao giờ cầm khiên, cầm súng, cầm mác, cầm cờ để chiến đấu. Họ thật sự chỉ là những người dân hiền lành đầy chất phát, chăm chỉ làm ăn quanh năm suốt tháng, đầy xa lạ với chiến tranh nhưng sức mạnh của lòng căm thù giặc đã khiến họ buông bỏ đồng ruộng làng mạc kia mà cầm trên tay súng, mác sẵn sàng chiến đấu bất cứ lúc nào “Ghét cay ghét đắng ghét vào tận tăm”. Khi nghe giặc tới, họ đã hồi hộp, lo lắng nhưng lại trông chờ bởi họ muốn giết chết, đuổi lũ giặc ra khỏi đất nước mình nhanh nhất có thể. Suy nghĩa luôn gắn liền với bản chất của họ, họ càng mong muốn giết lũ giặc nhiều bao nhiêu thì lòng yêu nước của họ cũng nhiều bấy nhiêu. Và khi nhìn thấy lũ giặc bước tới, chẳng sợ hãi gì, họ đã lao ra như vũ bão, họ muốn tới ăn gan, muốn ra cắn cổ, họ sẵn sàng chiến đấu hết mình kể cả hi sinh. Lòng căm thù giặc cứ mãnh liệt lên từng ngày, bằng nghệ thuật đối lập, từ Hán Việt, điển tích và nhiều động từ mạnh, Nguyễn Đình Chiểu đã rất thành công khi đã bộc lộ được rõ nỗi căm thù lũ giặc trong mỗi con người nông dân Nam Bộ trong từng chữ, từng câu văn, họ có một sự chuyển biến vừa bình thường lại vừa phi thường.

Xem thêm:  Nêu cảm nghĩ của em về bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ

Bằng ngòi bút, Nguyễn Đình Chiểu đã suốt đời chiến đấu không mệt mỏi cho đạo đức, chính nghĩa, cho độc lập tự do dân tộc và cũng bằng ngòi bút ấy, ông cũng đã kể lại quá trình chiến đấu của những nghĩa sĩ Cần Giuộc, từ điều kiện chiến đấu khó khăn ra sao cho đến tinh thần đầy kiên cường bất khuất của họ. Những người dân ấp, dân lân, chỉ có ngọn tầm vông, bao tấu, bao ngòi, chi nài sắt, dao tu, nón gõ, gươm đeo dùng bằng lưỡi phây. Họ không hề được đào tạo chuyên nghiệp, có gì dùng đó, đầy thô sơ tạm bợ, nhưng không vì thế mà họ đã nản lòng, họ đạp rào bước tới coi giặc như không, họ xô cửa xông vào, kẻ đâm ngang, người chém ngược. Vũ bão còn thua cả tinh thần thép trong người nông dân Cần Giuộc. Nguyễn Đình Chiểu đã dùng những động từ mạnh, phép đối lập, dùng những từ ngữ hết sức giản dị bằng nghệ thuật tả thực để dựng nên một bức tượng đài kì vĩ với lòng quả cảm, tinh thần kiên cường bất khuất của những người nhân dân nghĩa sĩ đánh Tây.

Nhưng kết thúc cuối cùng, những người nghĩa sĩ đã hi sinh vì một lí tưởng cao đẹp, điều buồn nhất là họ đã hi sinh khi chưa thể nhìn thấy đất nước mình thoát khỏi sự thống trị của bọn thực dân đế quốc, và phía sau sự hi sinh đó chính là những gia đình mất người thân, một gia đình mất đi trụ cột chính, một đứa con mất đi người cha, một người vợ mất đi người chồng, một mẹ già sống cảnh kẻ đầu bạc tiễn kẻ đầu xanh, cả thiên nhiên như đã nhuốm màu u tối, tang tóc. Thật căm hờn lũ đã gây ra nghịch cảnh này. Tiếng khóc được quy tụ từ rất nhiều nguồn cảm xúc, là tiếng khóc nghẹn ngào trước cảnh đau thương của đất nước, không chỉ trong lòng tác giả, toàn nhân dân mà còn bao trùm khắp cỏ cây, sông núi;một màu sắc tang thương. Những người nghĩa sĩ xuất thân từ người nông dân chất phát thật thà, giờ đây họ dám đứng lên để bảo vệ tấc đất, ngọn rau, miếng cơm manh áo, chống lại kẻ thù. Họ đã sẵn sàng lấy cái chết để làm rạng danh một chân lí của thời đại: “Thà chết vinh còn hơn sống nhục”. Công trạng của họ rất xứng đáng được tổ quốc ghi công, nhân dân ngưỡng mộ. Vì thời đại, họ đã sống đánh giặc, chết cũng đánh giặc, sống thờ vua, chết cũng thờ vua. Một điều khẳng định chắc chắn cho ý nghĩa bất tử của cái chết vì nước vì dân luôn tồn tại.

Xem thêm:  Phân tích bài thơ Viếng lăng Bác của Viễn Phương

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu là tiếng khóc bi tráng cho một thời kì lịch sử đau thương nhưng vĩ đại của dân tộc, là bức tượng đài bất tử về những người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc đã dũng cảm chiến đấu hi sinh vì tổ quốc. Bài văn cũng là một thành tựu xuất sắc về nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật, kết hợp nhuần nhuyễn chất trữ tình và tính hiện thực;ngôn ngữ bình dị, trong sáng, sinh động và chính những thứ ấy, nổi bật lên hình tượng đầy cao đẹp của những người nghĩa sĩ Cần Giuộc kiên cường, bất khuất, chẳng biết sợ gì.

Thái Lê Vân

Loading...

Ứng dụng VĂN MẪU TỔNG HỢP trên điện thoại với hơn 30k bài văn mẫu hay nhất, giải bài tập SGK, soạn văn đầy đủ chi tiết. Hãy tải App ngay để chúng tôi phục vụ bạn tốt hơn nhé!

Nếu thấy bài viết hay, hãy động viên và chia sẻ ban biên tập! Các bình luận không phù hợp sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.

Leave a Reply

avatar
  Nhận thông báo qua email  
Nhận thông báo cho
DMCA.com Protection Status