[Văn mẫu học sinh giỏi] Phân tích nghệ thuật châm biếm sắc sảo của Vũ Trọng Phụng qua đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia

[Văn mẫu học sinh giỏi] Phân tích nghệ thuật châm biếm sắc sảo của Vũ Trọng Phụng qua đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia

Dàn ý chi tiết

1. Mở bài:

 Giới thiệu tác giả tác phẩm:

– Tác giả:

+ Vũ Trọng Phụng (1912 – 1939), quê: Hà Nội

+ Xuất thân trong một gia đình nghèo.

+ Sáng tác của ông toát lên niềm căm phẫn mãnh liệt cái xã hội đen tối, thối nát đương thời.

– Tác phẩm:

+ Vị trí: thuộc chương XV của tiểu thuyết Số đỏ.

+ Tiêu đề đầy đủ: Hạnh phúc của một tang gia – Văn Minh nữa cũng nói vào – Một đám ma gương mẫu.

– Giới thiệu về nghệ thuật châm biếm sắc sảo của Vũ Trọng Phụng qua đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia.

2. Thân bài:

Khái niệm: Nghệ thuật châm biếm là gì?

Biểu hiện qua:

– Nhan đề: rất lạ và đầy nghịch lý, tang gia mà lại hạnh phúc, nhà có người chết mà lại vui vẻ sung sướng. Đó là niềm hạnh phúc, của một gia đình vô phúc, niềm vui của đám con cháu đại bất hiếu.

– Tình huống truyện:

+ Niềm hạnh phúc của các thành viên trong gia đình khi cụ cố Tổ chết:

            > Niềm vui chung

            > Niềm vui riêng:

                        * Cụ Cố Hồng

                        * Cụ bà

                        * Ông Văn Minh

                        * Bà Văn Minh

                        * Cậu Tú Tân

                        * Cô Tuyết

                        * Ông Phán mọc sừng

+ Cảnh đưa đám và những người đi đưa.

            > Tâm trạng của người đi đưa: Bạn của cụ cố Hồng, bạn của cô Tuyết, cô Hoàng hôn, nhà tạo mẫu Typn, cảnh sát Min – đơ, Min – toa, Xuân Tóc Đỏ

            > Cảnh đưa đám

            > Cảnh bên huyệt

=> Từ một tình huống trào phúng cơ bản, tác giả đã triển khai mâu thuẫn theo nhiều tình huống khác nhau, tạo nên một màn đại hài kịch rất phong phú và biến hóa, phát hiện ra những chi tiết đối lập nhau nhưng tồn tại trong một sự việc, một con người => làm bật lên tiếng cười đầy mỉa mai.

3. Kết bài:

Bằng nghệ thuật trào phúng, châm biếm sắc sảo, giọng điệu mỉa mai tác giả đã vạch trần bản chất lố lăng, đồi bại, giả dối của xã hội thượng lưu thành thị trước Cách Mạng Tháng Tám năm 1945.

phan tich nghe thuat cham biem trong hanh phuc cua mot tang gia - [Văn mẫu học sinh giỏi] Phân tích nghệ thuật châm biếm sắc sảo của Vũ Trọng Phụng qua đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia

Phân tích nghệ thuật châm biếm trong Hạnh phúc của một tang gia

Bài văn tham khảo

Trong một lần trả lời báo Ngày nay, Vũ Trọng Phụng đã nói: “Hắc ám, có! Vì tôi bi quan, căm hờn cũng vì tôi cho rằng xã hội nước nhà đáng căm hờn, mà lại cứ “ vui vẻ, trẻ trung, trưởng giả, ăn mặc tân thời, khiêu vũ, …” như các ông chủ trương thì một là không muốn cải cách xã hội, hai là ích kỷ một cách đáng sỉ nhục”. Vũ Trọng Phụng như vừa thể hiện quan điểm cá nhân vừa cho thấy sự căm ghét nhà cầm quyền, xã hội lúc bấy giờ. Và sự căm ghét ấy đã đi vào văn chương của ông, những ánh đèn “hào nhoáng” đầy lố lăng, kệch cỡm của một xã hội Âu hóa được thể hiện trong Hạnh phúc một tang gia – chương XV của Số đỏ. Nghệ thuật châm biến đầy đặc sắc như được người nghệ sĩ tận dụng hết sức có thể, nghệ thuật đã như ăn sâu vào từng câu chữ của tác phẩm. Và cũng chính nghệ thuật châm biếm đã thu hút người đọc từ những câu văn đầu tiên của một câu chuyện với đầy những mâu thuẫn không ai nghĩ đến.

Xem thêm:  Tả một người phụ nữ mà em yêu quý

Mâu thuẫn trào phúng tạo nên tiếng cười châm biếm xuất hiện ngay từ nhan đề “ Hạnh phúc một tang gia”. Nhan đề rất lạ và đầy nghịch lý, tang gia mà lại hạnh phúc, nhà có người chết mà lại vui vẻ sung sướng. Hay đó chính là niềm hạnh phúc, của một gia đình vô phúc, niềm vui của đám con cháu đại bất hiếu. Cái chết trở thành đại hỉ, tang tóc trở thành niềm vui trong sự chờ đợi mong mỏi, Cái chết của cụ cố tổ không làm chúng buồn khổ theo lẽ thường mà ngược lại, đó là cái chết được chờ đợi, khao khát từ bao lâu. Để có được cái chết này, ông cháu rể phải dùng khổ nhục kế một cách hào hứng, bỏ tiền ra thuê thằng Xuân  tố cáo việc ông ta mọc sừng khiến cụ tổ uất lên mà lăn đùng ra và “ ba hôm sau ông cụ chết thật” – chữ “thật” khiến câu văn mở đầu màn Hạnh phúc một tang gia nghe như một lời reo mừng, một tiếng thở phào sung sướng, nhẹ nhõm sau bao ngày mong mỏi, đời chờ, phấp phỏng. Và tất nhiên, tất cả những người trong gia đình cụ cố tổ rất đổi vui mừng trước cái chết của cụ, tờ di chúc sẽ sớm được thực hiện: “ Thế là từ nay mà đi, cái chúc thư kia sẽ vào thời kì thực hành chứ không còn là lí thuyết viễn vông nữa”. Cái gia tài kết xù sẽ được chia cho đám con cháu đại bất hiếu. Giờ khắc này, chúng mang một vẻ bình thản đến lạ bởi sau cái chết, từng người trong số chúng sẽ thu được mối lợi riêng mà chúng đã chờ đợi suốt bấy lâu nay. Con trai cụ cố Tổ – cụ cố Hồng, một kẻ ngu dốt, háo danh, bất hiếu đã“nhắm nghiền mắt lại để mơ màng đến cái lúc cụ mặc đồ xô gai, lụ khụ chống gậy, vừa ho khạc, vừa khóc mếu, để cho thiên hạ phải chỉ trỏ “ Ùi kìa con giai nhớn đã già đến thế kia kìa! ”, Vợ cụ cố Hồng thì đầy thản nhiên trước cái chết của bố chồng, bà chỉ lo chạy đi hối hôn và cưới chạy tan cho đứa con gái hư hỏng của mình – cô Tuyết, ông Văn Minh bản thân từng du học bên Tây nhưng chẳng có mảnh bằng nào, về nước mở tiệm âu hóa làm chủ tiệm. Đứng trước cái chết của cụ cố Tổ, ông boăn khoăn mời luật sư đến chứng kiến để giải quyết nhanh di chúc, ông xem đây như cơ hội để quảng cáo hàng may, kiếm tiền và ông thầm cám ơn Xuân Tóc Đỏ vì đã gây ra cái chết cho cụ cố Tổ. Còn “Bà Văn Minh thì sốt cả ruột vì mãi không được mặc những đồ xô gai tân thời, cái mũ mấn trắng viền đen”. Cậu Tú Tân sướng điên người vì được dùng những cái máy ảnh mà mãi không được dùng đến, với cậu đây còn là cơ hội để giải trí, để chứng tỏ tài năng chụp hình của mình. Cô Tuyết nôn nao được mặc bộ đồ “ngây thơ” để che đậy sự hư hỏng của mình: “Hôm nay Tuyết mặc bộ y phục Nây thơ – cái áo dài voan mỏng, trong có coóc – sê, trông như hở cả nách và nửa vú – nhưng mà viền đen, và đội một cái mũ mấn xinh xinh”. Đồng thời trên mặt có một nét buồn lãng mạn rất đúng mốt nhà có tang nhưng thực chất, cô buồn vì giai – vì chưa thấy Xuân Tóc Đỏ. Đám tang cũng trở thành cơ hội để Tuyết chưng diện, phô bày sự hư hỏng của kẻ chưa đánh mất chữ Trinh. Nhân vật cuối cùng được Vũ Trọng Phụng châm biếm chính là ông Phán mọc sừng. Ông vui sướng vì được thêm vài nghìn đồng để bù vào khoảng bị vợ cắm dừng. Điều là gã đàn ông bị vợ cắm sừng mà không biết nhục, xấu hổ mà lại đi tự hào về giá trị của đôi sừng hưu vô hình trên đầu.

Xem thêm:  Phân tích khổ thơ đầu bài thơ Tống biệt hành’ của Thâm Tâm

Trước cái chết của cụ cố Tổ, cả gia đình cụ cố Hồng. không chút buồn rầu, đâu đớn mà chỉ vui mừng, hứng khởi  và nóng ruột đem chon cho chóng cái xác kia. Chỉ vài nét chấm phá tác giả đã nói lên được cái nghịch lí trong đạo đức cổ truyền của dân tộc và bao nỗi chua xót bằng nghệ thuật trào phúng. Đồng thời đồng tiền là lối sống văn minh rởm đã len lỏi vào từng gia đình, làm tàn phá tình cảm của con người, làm mất đi đạo đức truyền thống.

Nghệ thuật trào phúng còn thể hiện ở cảnh tượng trào phúng – cảnh đưa đám. Hình ảnh trong đám tang có hình ảnh thuộc nghi lễ và không liên quan đến tang lễ song đều tạo ấn tượng về sự phô trương và kệch cỡm. Câu văn trân thuật “Đám cứ đi…” được viết thành một dòng riêng, lặp lại mấy lần tạo ra ấn tượng sâu sắc về toàn cảnh, viễn cảnh của một đám tang đông đúc huyên náo, tạo ấn tượng về sự diễn biến kéo dài tới trơ tráo bất chấp mọi chê bai, khinh bỉ, ghê sợ của những người chứng kiến có lương tri, nhờ đó, những sự lố lăng, đồi bại, giả dối của bọn người đi đưa đám đã bày ra một cách vô sỉ giữa cuộc đời. Đây là một đám ma to tác, đám ma mà như đám rước tưng bừng rộn rã, nó theo cả lối Ta, Tây, Tàu, có cả vòng hoa và ba trăm câu đối, người đi đưa đông đúc, sang trọng. Nó đi đến đâu làm huyên náo đến đấy. Hàng phố thì nhốn nháo khen đám ma to. Quả thật nó làm cho người nằm trong quan tài phải mỉm cười sung sướng. Và đặt biệt hơn là sự xuất hiện của Xuân Tóc Đỏ với sáu chiếc lộng có sư, vòng hoa đồ sộ càng làm tăng thêm tính “hội chợ”. Đám ma diễn ra mang một tấn hài kịch nói lên tính chất lố lăng, đồi bại của xã hội thương lưu thời trước.

Xem thêm:  Tập đọc: Cái gì quý nhất ?

Cảnh bên huyệt được xem là khoảng khắc trào phúng xuất thần làm hoàn hảo thêm màn đại hài kịch. Cậu Tú Tân lúc này như một đạo diễn để có bức ảnh đẹp luôn bắt bẻ từng người một phải làm những động tác, giữ những tư thế đau buồn cho cậu ta chụp hình. Ông Phán mọc sừng, cái kẻ giả dối và vô liêm sỉ nhất trong cái gia đình này đã khóc đến tưởng chừng ngất đi. Tuy vậy, giữa lúc oằn người khóc lóc, chính ông ta đã giúi vào tay Xuân Tóc Đỏ món tiền năm đồng vì đã có công gọi ông ta là “người chồng mọc sừng”. Chỉ một vài chi tiết nhỏ đã làm cho màn kịch nhanh chóng hạ bệ, tác giả đã lật tẩy mọi hành động của các nhân vật trong cảnh bên huyệt. Qua đó thấy được trị phê phán rất lớn.

Từ một tình huống trào phúng cơ bản, tác giả đã triển khai mâu thuẫn theo nhiều tình huống khác nhau, tạo nên một màn đại hài kịch rất phong phú và biến hóa, phát hiện ra những chi tiết đối lập nhau nhưng tồn tại trong một sự việc, một con người. Nó làm bật lên tiếng cười đầy mỉa mai như vũ khí sắc bén giúp hoàn thiện giá trị con người và đời sống.

Trong cả tiểu thuyết “Số đỏ” cũng như đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia”, đối tượng để Vũ Trọng Phụng châm biếm, đả kích chính là cái xã hội thực dân nửa phong kiến, một xã hội “khốn nạn, chó đểu, vô nghĩa lí”. Nhà văn sử dụng linh hoạt và sắc bén những thủ pháp trào phúng, các mâu thuần trào phúng, xây dựng các chân dung biếm họa… để phơi bày bản chết xấu xa, thói háo danh, hám tiền, thói hợm hĩnh, rởm đời, vô nghĩa lí bao trùm lên là thói đạo đức giả của một xã hội tư sản thành thị Việt Nam đầu thế kỉ XX.

Thái Lê Vân

Leave a Reply

avatar
  Nhận thông báo qua email  
Nhận thông báo cho
DMCA.com Protection Status