[Văn mẫu học sinh giỏi] Phân tích vẻ đẹp bi tráng của hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng

[Văn mẫu học sinh giỏi] Phân tích vẻ đẹp bi tráng của hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng

Dàn ý chi tiết

1. Mở bài

Giới thiệu khái quát về tác giả, tác phẩm

Tác giả Quang Dũng: (1921-1988) là người nghệ sĩ đa tài, gắn bó với Hà Nội. Hồn thơ Quang Dũng là một hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn, tài hoa

Bài thơ “Tây Tiến”: là nỗi nhớ của người lính hướng tới đồng đội, chiến trường. Qua đó nhà thơ đã khắc tác bức tượng đài người lính Tây Tiến hào hoa, lãng mạn. Riêng khổ thơ thứ ba của bài thơ thể hiện rõ nhất bức chân dung người lính mang đậm tinh thần bi tráng.

2. Thân bài

2.1. Khái quát chung

Hoàn cảnh sáng tác bài thơ “Tây Tiến”: Năm 1947, nhà thơ gia nhập binh đoàn Tây Tiến, sống những năm tháng gian khổ nhưng hào hùng, lãng mạn. Lính Tây Tiến là những người lính trí thức vừa gan dạ, kiên cường, vừa hào hoa, nghệ sĩ. Năm 1948, phải rời xa đơn vị, ở Phù Lưu Chanh Quang Dũng viết bài thơ “Nhớ Tây Tiến” sau ông đổi thành “Tây Tiến”.

Xuất xứ: in trong tập “Mây đầu ô” (1986)

2.2. Nội dung phân tích: Vẻ đẹp bi tráng của hình tượng người lính (phân tích 8 câu thơ ở đoạn thơ thứ 3)

LĐ1: Giải thích vẻ đẹp bi tráng

“Bi” là gì?

Là khi nhà thơ không né tránh gian khổ, đặc biệt trong hi sinh, nhất là hi sinh trong thiếu thốn tột cùng (áo bào thay chiếu = không gỗ ván, không cả một manh chiếu)

“Tráng” là gì?

Dù khó khăn đến mấy thì ở họ vẫn toát lên hình ảnh người lính lẫm liệt: dữ oai hùm, ngang tàng, lẫm liệt, đạp bằng gian khổ, cái chết không khuất phục được họ. Với chiếc áo bào (vốn là chiếc áo sờn) họ đi vào cõi vĩnh hằng trong tiếng nhạc thiêng của núi sông…

LĐ2: Chân dung người lính trong sự gian khổ, hào hùng trong khí thế chiến đấu.                 (phân tích 2 câu thơ đầu)

LĐ3: Nét đẹp lãng mạn, hào hoa trong bức chân dung người lính Tây Tiến.

(phân tích 2 câu tiếp)

LĐ4: Cái chết bi tráng với lí tưởng cao đẹp khát vọng lớn lao trong bức chân dung người lính Tây Tiến.

(phân tích 2 câu tiếp)

LĐ5:  Linh hồn bất tử của người lính Tây Tiến về với sông núi.

 (phân tích 2 câu thơ cuối)

2.3. Đặc sắc nghệ thuật

Nhà thơ sử dụng bút pháp lãng mạn ưa khám phá những vẻ đẹp dữ dội, phi thường.

Sử dụng thủ pháp đối lập mạnh mẽ.

Giọng thơ trang trọng thể hiện tình cảm tiếc thương và sự kính trọng trước linh hồn của đồng đội.

3. Kết bài

Tổng kết nội dung phân tích

Nêu cảm nhận

Phân tích vẻ đẹp bi tráng của hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến

Bài văn tham khảo

Quang Dũng (1921-1988) là người nghệ sĩ đa tài, gắn bó với Hà Nội. Chắc hẳn nhắc đến Quang Dũng ta không chỉ nhớ tới Tây Tiến như một kỉ niệm đẹp mà còn gợi nhớ về hình ảnh xứ Đoài mây trắng – quê hương của nhà thơ. Hồn thơ Quang Dũng là một hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn, tài hoa. Dưới ngòi bút điêu luyện nhà thơ đem đến cho “Tây Tiến” một  nỗi nhớ của người lính hướng tới đồng đội, chiến trường. Qua đó nhà thơ đã khắc tác bức tượng đài người lính Tây Tiến bất tử với thời gian. Riêng khổ thơ thứ ba của bài thơ thể hiện rõ nhất bức chân dung người lính mang đậm tinh thần bi tráng.

Năm 1947 Quang Dũng gia nhập binh đoàn Tây Tiến, nhà thơ cùng đồng đội đã sống những năm tháng gian khổ nhưng hào hùng, lãng mạn. Lính Tây Tiến là những người lính trí thức vừa gan dạ, kiên cường, vừa hào hoa, nghệ sĩ. Năm 1948, phải rời xa đơn vị, ở Phù Lưu Chanh Quang Dũng viết bài thơ “Nhớ Tây Tiến” sau ông đổi thành “Tây Tiến”. Bài thơ ra đời từ đó và được in trong tập “Mây đầu ô” (1986).

Trong bài thơ “Tây Tiến” Quang Dũng đã dựng lên một bức tượng đài người lính Tây Tiến vô cùng hào hùng, hào hoa, lãng mạn trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược. Đó là bức tượng đài bi tráng đã làm cho những người chiến sĩ yêu nước đã hi sinh trong những tháng năm gian khổ ấy bất tử cùng thời gian:

Xem thêm:  Bình luận nhận định: Lòng yêu nước bắt nguồn từ lòng yêu những người thân…

“…Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà nội dáng kiều thơm

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành…”

Vậy “bi tráng” có nghĩa là gì? Trong bài thơ thì “bi” có nghĩa là nhà thơ không né tránh gian khổ, đặc biệt trong hi sinh, nhất là hi sinh trong thiếu thốn tột cùng. Còn “tráng” là cho dù khó khăn đến mấy thì ở họ vẫn toát lên hình ảnh người lính lẫm liệt: dữ oai hùm, ngang tàng, lẫm liệt, đạp bằng gian khổ, cái chết không khuất phục được họ.  Mỗi câu trong đoạn thơ trên là một nét chân dung về người lính Tây Tiến. Trước hết, nhà thơ đặc tả ngoại hình của họ bằng một nét vẽ gân guốc, lạ hóa nhằm tô đậm hiện thực của cuộc sống gian khổ:

“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm”

Nếu như ở hai đoạn thơ trước đó hình ảnh người lính mới chỉ hiện ra trong câu: “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi ” hay vẻ đẹp của tình quân dân trong đêm hội đuốc hoa. Thì ở đây lại là hình ảnh đoàn binh không mọc tóc da xanh như lá rừng. “Không mọc tóc” chính là hậu quả của những trận sốt rét rừng khủng khiếp mà người lính nào cũng phải trải qua. Trong hồi ức của những đồng đội từ Tây Tiến trở về, đoàn quân ấy đánh trận tử vong ít, sốt rét tử vong nhiều. Nhưng cái hiện thực nghiệt ngã này đã được khúc xạ qua cái nhìn lãng mạn của Quang Dũng. Nhiều bài thơ sáng tác trong thời kì kháng chiến chống Pháp cũng nói lên hiện thực khốc liệt đó. Tố Hữu từng viết trong “Cá nước”:

“Giọt giọt mồ hôi rơi

Trên má anh vàng nghệ”

Chính Hữu trong “Đồng chí” cũng miêu tả:

“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh

Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi”

Ẩn sau ngoại hình ấy là sức mạnh của nội tâm. Cuộc sống người lính khó khăn đến vậy nhưng họ vẫn “dữ oai hùm” thể hiện khí phách anh hùng, nét oai phong dữ dằn như chúa tể chốn rừng thiêng. Điều gì đã khiến những người lính Tây Tiến lạc quan, yêu đời đến vậy? Có lẽ là những giấc mơ chấp chới dáng kiều thơm trở thành động lực để giúp người lính vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, là lời thúc giục họ tiến lên phía trước, cũng là niềm tin mang họ vượt qua bom đạn trở về từ chiến trường tàn khốc.

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Loading...

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”

Cảm hứng có “bi” nhưng không hề có lụy, ta thấy cái gian khổ của chiến tranh nhưng cũng cảm nhận được vẻ oai hùng, lãng mạn của người lính Tây Tiến. “Mắt trừng” là chi tiết cực tả cái phẫn nộ sôi sục của nội tâm hướng về nhiệm vụ chiến đấu. Ta thấy ở đâu đây khẩu khí của “Nhớ rừng” của Thế Lữ với âm hưởng sơn dã:

“…Hỡi oai linh cảnh nước non hùng vĩ!

Là nơi giống hầm thiêng ta ngự trị.

Nơi thênh thang ta vùng vẫy ngày xưa,

Nơi ta không còn được thấy bao giờ!…”

Quang Dũng đã sử dụng thủ pháp đối lập trong việc khắc họa sự tương phản giữa ngoại hình “không mọc tóc, xanh màu lá” và nội tâm mãnh liệt dữ dội, ngang tàng. “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” là một nét vẽ bay bổng lãng mạn chân dung người lính, là hào hoa và sức mạnh Tây Tiến. “Dáng kiều thơm” gợi cho ta vẻ đẹp yêu kiều, thanh lịch của người thiếu nữ Hà thành. Cái đẹp hội tụ cả sắc nước hương trời. Bút pháp lãng mạn khi khắc họa hình ảnh người lính Tây Tiến – hiệp khách xưa, thường thấp thoáng một bóng hình người đẹp ngư vậy. Họ chính là hậu phương vững chắc đối với tiền tuyến phần lớn là các trí thức, học sinh hay nghệ sĩ. Ta thấy rằng đằng sau vẻ ngoài dữ dằn, oai nghiêm là trái tim khao khát yêu đương đậm chất nghệ sĩ, họ mang trong mình một bóng hình lãng mạn. Nhưng đã từng có một thời, với cái nhìn ấu trĩ, người ta phê phán thói tiểu tư sản. Những giấc mơ ấy được xem là “mộng rớt tiểu tư sản”, yếu đuối ủy mị, không nên có ở người lính.

Xem thêm:  Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Sông núi nước Nam của Lí Thường Kiệt - Văn mẫu lớp 7

Hai câu thơ tiếp thể hiện cái chết bi tráng với lí tưởng cao đẹp khát vọng lớn lao trong bức chân dung người lính Tây Tiến:

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành…”

Những từ Hán Việt cổ kính “Rải rác biên cương mồ viễn xứ” tạo nên không khí trang trọng, thiêng liêng, làm giảm nhẹ đi cái bi thương của hình ảnh những nấm mồ người lính rải rác nơi rừng hoang biên giới lạnh lẽo, xa xôi. Có thể thấy câu thơ: “Rải rác biên cương mồ viễn xứ” nếu tách riêng để phân tích sẽ rất dễ gây cảm giác nặng nề bởi đó là câu thơ nói về cái chết. Từng từ từng chữ dường như mỗi lúc một nhấn thêm nốt nhạc buồn của khúc hát hồn tử sĩ. Quả thực khi nói về những nấm mồ, lại là những nấm mồ “rải rác” dễ gợi sự hoang lạnh nơi viễn xứ, những nấm mồ ấy càng gợi sự cô đơn côi cút. Trong đoạn thơ, Quang Dũng không hề né tránh hiện thực khắc nghiệt dữ dội. Trên chặng đường hành quân nhiều chiến sĩ không thể vượt qua đã trở về với đất mẹ. Quang Dũng đang muốn nói tới nơi yên nghỉ của những người đồng đội đã ngã xuống nơi chiến trường khốc liệt:

“Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời”

Đời xanh tuổi trẻ, đời xanh bao mơ ước khát vọng cháy bỏng còn đang dang dở ở phía trước. Nhưng những người lính ấy họ ý thức được rằng chẳng có gì quý giá hơn Tổ quốc thên yêu,chẳng có tình yêu nào cao hơn tình yêu Tổ quốc. Câu thơ “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” càng chứng tỏ sức mạnh khỏe khoắn của tinh thần người lính Tây Tiến. Vượt lên tất cả là khát vọng được lên đường ra trận, được dâng hiến sức trẻ, xả thân vì độc lập tự do của dân tộc. Hào khí của thời đại đã ùa vào chắp cánh cho câu thơ này. Nó gợi lên cái âm vang hào sảng của một lời thề “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”:

Đoàn vệ quốc quân một lần ra đi

Nào có sá chi đâu ngày trở về

Ra đi ra đi bảo tồn sông núi

Ra đi ra đi thà chết không lùi…”

Những chất liệu cổ điển kết hợp với ngôn ngữ đậm chất khẩu ngữ khiến đoạn thơ dù pha chút xót thương, nhưng âm hưởng chính vẫn là hào hùng, mạnh mẽ.

Đoạn thơ thứ ba khép lại bằng sự hi sinh của những người lính Tây Tiến anh dũng, hiên ngang. Sự hi sinh ấy còn được tráng lệ hoá trong câu thơ:

“Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

“Áo bào thay chiếu anh về đất” lại một lần nữa nhắc đến sự ra đi của những người lính Tây Tiến. Hình ảnh “áo bào thay chiếu” là một cách nói sang trọng hóa sự ra đi của người lính. Họ ngã xuống nơi chiến trường hoang vu, lạnh lẽo chỉ có manh chiếu sơ sài bó tạm. Coi chiếu là áo bào để cuộc tiễn đưa trở nên trang nghiêm, cổ kính. Cũng có người hiểu đến chiếc chiếu cũng không có, chỉ có  tấm áo của chính những người lính mà thôi. Dù hiểu theo cách nào thì cũng phải thấy Quang Dũng đã tráng lệ hoá cuộc tiễn đưa bi thương bằng hình ảnh chiếc áo bào và sự hi sinh của người lính đã được coi là sự trở về với đất Mẹ. Cụm từ “anh về đất” nói về cái chết nhưng lại bất tử hoá người lính, nói về cái bi thương nhưng lại bằng hình ảnh tráng lệ. “Về đất” là cách nói giảm nói tránh đi sự mất mát, là sự tựu nghĩa của những người anh hùng, thanh thản và vô tư sau khi đã làm tròn nhiệm vụ, dâng hiến không mảy may tiếc nuối tuổi trẻ của mình cho Tổ quốc thân yêu. Than ôi! Sự hi sinh của những người anh hùng ấy lớn lao nhưng lại thầm lặng vô danh quá! Nhưng càng thầm lặng bao nhiêu thì càng đáng kính phục bấy nhiêu!

Xem thêm:  Dàn ý tả cây xoài chi tiết đầy đủ

Nếu câu thơ trên nhẹ nhàng thanh thản thì câu thơ dưới lại thể hiện sự dữ dội, gào thét. Con người thì câm lặng trước nỗi đau, còn thiên nhiên thì gầm lên khúc độc hành bi tráng. Sự hi sinh mất mát đó như thấu tới tận đất trời khiến:

Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Tất cả nội lực của câu thơ dồn nén trong động từ “gầm”. Con sông Mã gắn liền với cuộc hành trình của đoàn quân Tây Tiến. Cũng chính dòng sông Mã cuộc trào chảy về xuôi tấu lên tiếng kèn của núi rừng bi tráng tiễn đưa linh hồn những người lính Tây Tiến anh dũng hi sinh về với núi sông. Từ đó ta thấu hiểu vì sao khi Quang Dũng nhắc đến Tấy Tiến là nhắc tới con sông Mã.

Từ những phân tích trên về vẻ đẹp bi tráng của bức tượng đài nghệ thuật người chiến sĩ Tấy Tiến ta càng thấy ngòi bút tài hoa của nhà thơ Quang Dũng. Nhà thơ sử dụng bút pháp lãng mạn ưa khám phá những vẻ đẹp dữ dội, phi thường, hay sử dụng thủ pháp đối lập mạnh mẽ. Hai cảm hứng lãng mạn và bi tráng đan cài vào nhau dựng nên bức tượng đài bất tử trong bài thơ. Giọng thơ trang trọng thể hiện tình cảm tiếc thương và sự kính trọng trước linh hồn của đồng đội. Nhà thơ nhiều lần viết về cái bi hay sự mất mát. Song không hề có một chút ủy mị cúi đầu, mất mát nhưng vẫn gân guốc, cứng cỏi. Từ đó khắc tạc nên chân dung người lính Tây Tiến vừa mang vẻ đẹp lãng mạn, hào hoa, vừa đậm chất bi tráng.

Vẻ đẹp bi tráng của hình tượng người lính được Quang Dũng khắc họa một cách tài hoa và kết hợp hài hòa với cảm hứng lãng mạn. Sức sống vượt thời gian và thử thách khắc nghiệt một thời bằng những giá trị tỏa sáng tự thân của “Tây Tiến” đã đặt bài thơ vào vị trí là một trong những sáng tác tiêu biểu nhất của nền thơ ca kháng chiến chống Pháp. Nói như Phong Lê: Tây Tiến “vẹn nguyên trở về với người đã sinh ra nó để nhận lại vị trí của đứa con đầu lòng hòa hoa và tráng kiện, không phải chỉ của Quang Dũng mà còn là của cả nền thơ ca kháng chiến, ở vị trí mở đầu”. Bài thơ “Tây Tiến”của Quang Dũng đã đi vào lòng độc giả và không hề bị lãng quên trong suốt hơn 70 năm qua. “Tây Tiến” sẽ mãi là tác phẩm được yêu mến, trân trọng của các thế hệ học trò.

Nguyễn Thị Thu Huyền

Loading...

Ứng dụng VĂN MẪU TỔNG HỢP trên điện thoại với hơn 30k bài văn mẫu hay nhất, giải bài tập SGK, soạn văn đầy đủ chi tiết. Hãy tải App ngay để chúng tôi phục vụ bạn tốt hơn nhé!

Nếu thấy bài viết hay, hãy động viên và chia sẻ ban biên tập! Các bình luận không phù hợp sẽ bị cấm bình luận vĩnh viễn.

DMCA.com Protection Status